Top 5 # Xem Nhiều Nhất Chồng Yêu Chó Hơn Vợ Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Asahihotpot.com

Khi Vợ Yêu Chó Hơn Chồng

Chẳng ai bài xích, phản bác chuyện bạn yêu thú vật và bảo vệ chúng cả. Thế nhưng nếu yêu thương loài vật đến mức lấn át cả tình cảm dành cho người thân, bỏ bê trách nhiệm với gia đình, thì quả là đáng trách!

Đang chuẩn bị họp thì chuông điện thoại trong túi quần anh Quang reo inh ỏi, tiếp theo là giọng hốt hoảng của chị Hằng, vợ anh: “Anh về mau, con nó bị gãy chân!” rồi cúp cái rụp kèm tiếng khóc thút thít. Anh Quang tức tốc chạy xe về nhà, ngạc nhiên khi thằng con trai chạy ù ra ôm bố, tay chỉ vào trong giọng bi bô: “Bin trèo tường bị gãy chân”.

Trong bếp, vợ anh đang ôm con chó Đức vào lòng, nước mắt nước mũi tèm lem. “Con Bin bị gãy chân, sao em nói con mình? Làm anh bỏ dở cuộc họp!” Nghe chồng mắng, chị Hằng đùng đùng nổi giận: “Trước giờ anh thương nó như con mà, sao giờ lại hắt hủi. Nó đau thì em phải đau chứ. Thế này em phải xin nghỉ mấy hôm để chăm nó thôi”. Thế là cả tuần đó chị Hằng gửi đứa con trai bốn tuổi cho người giúp việc trông, phần chị đi chợ mua hột vịt lộn, thịt bò, xương ống về nấu cho con chó ăn.

Cách bữa chị lại đón taxi đưa chó đi bác sĩ thú y. Chồng đi làm về mệt nhoài, chị cũng mặc kệ, vì còn bận thoa bóp chân con Bin. Nhìn vợ lo cho chó còn hơn cả hai bố con, anh Quang chỉ biết than với cô giúp việc: “Tui ốm thì bả bảo ăn tạm mì tôm, còn cái con vật nuôi kia trở gió một chút đã có thịt bò, trứng vịt chất đầy tủ lạnh. Mấy ngày con chó bị ốm, con trai tôi phải ăn cháo dinh dưỡng mua ở ngoài”.

Yêu thú cưng hơn người thân?

Spa làm đẹp cho thú cưng hiện nay ngày càng nở rộ

Ít ai ngờ lại có người quan niệm: sinh một đứa trẻ phải kỳ công chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau, chưa kể những tốn kém nuôi dưỡng, giáo dục và tạo lập tương lai cho con, chi bằng nuôi một con vật, chẳng phải lo nghĩ, khuyên bảo, chỉ một hộp thực phẩm cho thú nuôi là xong!

Thế mà có đấy: Quỳnh Thy – Bảo Đăng cưới nhau năm năm trời nhưng cứ ai đó nhắc đến chuyện sinh con thì Quỳnh Thy đều bĩu môi, chỉ vào con mèo cô đang ôm trên tay: “Sinh con là tạo nghiệp, chi bằng nuôi con này cho cuộc sống nó đơn giản mà lại vui. Mà nó khôn lắm, chẳng khác đứa trẻ”.

Bất chấp phản đối của họ hàng về tư tưởng quái lạ trên, vợ chồng Quỳnh Thy vẫn cứ vô tư mua sắm quần áo đẹp cho con mèo, chuẩn bị cho nó tham dự cuộc thi sắc đẹp các loài vật sắp diễn ra.

Ngại chuyện chồng con, cơm bưng nước rót, quét tước dọn dẹp mỗi ngày, nhiều cô gái chọn cho mình giải pháp nuôi chó, nuôi mèo bầu bạn lâu dài. Có trường hợp vừa chia tay người yêu, chán đời, đi mua một chú chó về bầu bạn.

Gắn bó được ba năm thì chú chó mang bệnh mất, để lại cô chủ đau đớn còn hơn lúc mất người yêu! Cô xây cho chú một ngôi mộ cả chục triệu đồng, làm một clip thật dài về cuộc đời của chú chó vắn số, rồi từ đó đoạn tuyệt luôn chuyện yêu đương!

9 Cách Làm Cho Chồng Yêu Vợ Hơn, Khiến Chàng “Yêu Không Lối Thoát”

Hạnh phúc gia đình chỉ bền chặt khi vợ chồng biết cách giữ lửa hôn nhân và có trách nhiệm với con cái, người bạn đời. Bạn có một nhan sắc xinh đẹp, đó là một lợi thế. Nhưng nó lại chưa phải là tất cả để “giữ chân” người chồng. Việc tìm cách làm cho chồng yêu vợ hơn đang khiến bạn cảm thấy đau đầu và trằn trọc mỗi đêm.

Đây sẽ là bài viết bạn không nên bỏ qua để làm “nóng” tình cảm vợ chồng.

1. Luôn dành những lời động viên, khen ngợi anh ấy

Lời khen của vợ luôn là liều thuốc tinh thần giúp người chồng phấn chấn và có thêm năng lượng tích cực

Thực tế chứng minh, lời khen luôn là liều thuốc tinh thần giúp con người phấn chấn và có thêm năng lượng tích cực. Tuy nhiên đáng tiếc, khi bước vào cuộc sống hôn nhân, người phụ nữ lại thường quên dành lời khích lệ cho người chồng bận bịu công việc từ sáng đến tối.

Các nhà khoa học cho rằng, tâm lý đàn ông xét về nhiều mặt rất giống với trẻ con. Họ dễ dàng cảm thấy hạnh phúc khi nhận được một câu khen từ vợ, và cũng mau tủi thân khi bị trách móc.

Đơn giản, bạn chỉ cần chủ động gửi một tin nhắn khích lệ cho chồng qua điện thoại là đã đủ để khiến anh ấy vui cả ngày và hoàn thành công việc nhanh hơn. Không tốn nhiều tiền bạc, không mất quá nhiều thời gian nhưng điều này vẫn khiến chồng yêu bạn nhiều hơn mỗi ngày đấy!

Bạn không nên suốt ngày cau có, than phiền hay lặp đi lặp lại một câu chuyện bên tai chồng, đó là dấu hiệu của một người vợ dại. Thay vì trách móc khi thấy chồng vứt quần áo linh tinh trên giường, hãy sắm một chiếc giỏ và yêu cầu anh ấy vứt vào đó.

Để khiến chồng yêu bạn nhiều hơn, hãy là một người tinh vợ tinh tế bằng việc đưa ra lời đề nghị thay vì phàn nàn.

3. Luôn chăm chút ngoại hình của mình

Để khiến chồng luôn có hứng thú với bạn, cần biết chăm sóc và giữ gìn nhan sắc

Nhan sắc không phải là tất cả để giữ gìn hạnh phúc. Nhưng nó cũng góp một phần không nhỏ để khiến chồng luôn có hứng thú với bạn. Cho dù có bận rộn đến đâu, bận cũng nên dành ra ít nhất 15 – 20 phút mỗi ngày để làm đẹp và chăm chút cho làn da.

Cách người vợ thông minh làm cho chồng yêu thương nhiều hơn đó là cảm ơn người ấy về những điều nhỏ nhặt.

Đó có thể chỉ là việc anh ấy phơi quần áo, rửa bát hay ra ngoài mua chút đồ giúp bạn. Song bất cứ người đàn ông nào cũng cảm thấy hạnh phúc khi được ghi nhận công lao và khen ngợi.

Thực tế, tất cả chúng ta đều muốn được đánh giá cao, và đàn ông cũng không ngoại lệ. Cách bày tỏ lòng biết ơn, sự cảm kích là một việc làm mà các người vợ không nên bỏ qua để chồng luôn cảm thấy yêu và được yêu.

5. Là người phụ nữ biết “hư” trên giường

Bất cứ người chồng nào cũng muốn người vợ của mình biết chủ động và “hư” trong chuyện ấy

Theo khảo sát, bất cứ người chồng nào cũng muốn người vợ của mình biết chủ động và “hư” trong chuyện ấy. Bởi lẽ, đó chính là yếu tố kích thích sự hứng thú và khoái cảm của đàn ông. Nó giúp cho họ cảm thấy thăng hoa trong chuyện giường chiếu.

Vậy nên, để chồng yêu say đắm, bạn phải biết cách làm chủ “cuộc yêu” bằng những cử chỉ âu yếm, ngọt ngào.

Tuy nhiên, để làm được điều này có lẽ sẽ khá khó với nhiều người. Song, bạn cần bắt đầu bỏ qua sự ngại ngùng và mạnh dạn bày tỏ mong muốn với bạn đời. Với cách này, chồng sẽ “thích mê” mà không tìm “của lạ” bên ngoài nữa.

6. Bỏ qua những điều nhỏ nhặt

Không ai là hoàn hảo và việc con người mắc sai lầm. Khiếm khuyết là điều khó tránh khỏi, kể cả bạn hay người bạn đời. Do đó, hãy bỏ qua những lỗi lầm nhỏ của chồng như cách bạn chấp nhận những khiếm khuyết để hôn nhân thêm hạnh phúc.

Nếu có vấn đề khúc mắc, hãy tâm sự, nói chuyện thẳng thắn với chàng để tìm ra hướng giải quyết tốt nhất.

7. Nấu cho chồng những bữa ăn ngon

Nấu cho chồng những món ăn ngon là cách nhanh nhất để anh ấy yêu bạn nhiều hơn

Có câu “Con đường ngắn nhất đến trái tim của người đàn ông là đi qua dạ dày”. Vậy nên, nấu cho chồng những món ăn ngon là cách nhanh nhất để anh ấy yêu bạn nhiều hơn.

Một người vợ đảm đang là ít nhất, bạn cũng cần học cách nấu những món chàng thích thật thành tâm.

Một món ăn ngon không nhất thiết phải là cao lương mỹ vị, mà có thể chỉ là những món ăn dân dã hằng ngày hợp khẩu vị của chàng. Việc này sẽ giúp chàng luôn muốn trở về nhà và ăn cơm bạn nấu đấy!

8. Tôn trọng tiền của chồng

Nhiều người nghĩ rằng, người vợ phải biết giữ và kiểm soát tiền bạc của chồng, thậm chí là tịch thu luôn. Tuy nhiên, cách làm này lại không hay bởi nó sẽ khiến đàn ông cảm thấy ngại ngùng, khó chịu khi đi với bạn bè mà không có 01 xu trong ví.

Chính vì thế, để chồng bạn yêu vợ hơn, bạn cần phải biết cách khéo léo quản lý tài chính của chồng. Đừng để chồng mình ra đường mà lúc nào cũng phải ngửa tay xin vợ.

9. Luôn quan tâm đến gia đình chồng

Nếu muốn chồng yêu mình nhiều hơn, bạn cần biết cách chăm sóc cho bố mẹ chồng

Có một câu nói rằng: “Làm vợ thôi chưa đủ mà phải biết cách làm dâu”. Do đó, bạn yêu chồng thôi chưa đủ, phải biết yêu cả gia đình và họ hàng của chồng. Nếu muốn chồng yêu mình nhiều hơn, bạn cần biết cách chăm sóc cho bố mẹ chồng. Biết cách đối đãi, ứng xử chu toàn cho gia đình nhà chồng. Đó mới là một người vợ khéo.

Thực ra, cách làm chồng yêu vợ hơn không khó, quan trọng nhất là bạn cần đặt bản thân vào vị trí của đối phương để hiểu được cảm xúc và mong muốn của họ. Từ đây, Hôn nhân và Gia Đình hy vọng bạn có thể áp dụng được 9 bí quyết trên vào thực tế để trở thành người vợ thông minh và hoàn hảo.

Phương Nguyễn

Cảm Động Đôi Vợ Chồng Già Cưu Mang Chó Mèo Hoang Suốt Hơn 10 Năm

Dù gia cảnh khốn khó nhưng hai ông bà lão ấy vẫn rộng lòng cưu mang, chăm sóc cho hơn 60 chú chó mèo hoang trong suốt hơn 10 năm qua.

Những người xung quanh không ai là không biết đến đôi vợ chồng già ấy. Bởi lẽ, ngôi nhà bé nhỏ của họ cũng chính là mái ấm của rất nhiều chó mèo hoang trong vùng trong suốt hơn 10 năm qua.

Ông Hồ và bà Tạ là người Thành Đô, Trung Quốc, năm nay đã gần 60 tuổi. Trong suốt nhiều năm qua, để có thể nuôi dưỡng những chú chó, mèo này, ông bà đã dùng hết số tiền tích lũy cả đời của mình. Đồng thời ngày ngày ông bà vẫn đi làm việc để có tiền trang trải cuộc sống, chăm sóc đám “con nhỏ” của mình.

Chuyện bắt đầu từ năm 2005, khi ông Hồ và vợ mình tình cờ cứu được một chú mèo hoang bị bệnh. Sau đó, hai vợ chồng ông đã chữa khỏi bệnh cho chú mèo này rồi chăm sóc, nuôi dưỡng đến tận bây giờ. Sau ngày hôm đó, cuộc sống của họ đã hoàn toàn thay đổi khi số thành viên mới trong nhà ngày càng gia tăng nhanh chóng. Có trường hợp là do cả hai vợ chồng nhặt về, có trường hợp là người khác nhờ nuôi hộ, thậm chí có trường hợp là các chú chó mèo tự động tìm đến nhà ông bà.

Nhắc đến chú mèo hoang ấy, ông hồi tưởng: “Lúc đó, có một chú mèo hoang bị mắc kẹt trên nóc nhà, phía dưới có rất nhiều người vây quanh đứng xem. Tôi nhìn thấy chú mèo rất đáng thương, nhưng dường như mọi người xung quanh không ai ra tay giúp nó cả. Thế nên tôi tự mình lên đó cứu nó xuống.”. Cũng từ hôm đó, ông bắt đầu lưu ý kĩ càng hơn ở những góc tối, thùng rác, thùng xốp xem có phát hiện được chú chó, chú mèo hoang nào không. Chỉ cần trông thấy là ông đều mang về nhà tận tình chăm sóc. Mười năm qua, cả hai ông bà đã nuôi nấng, cưu mang hơn 60 chú chó mèo hoang trong nhà.

Mỗi buổi tối, người và vật đều ngủ cùng nhau. Hai vợ chồng ông ngủ phía trên, những “thành viên” còn lại thì ngủ phía dưới. Cả gia đình chen chúc nhau trong một không gian chưa đến 20 mét vuông, thậm chí đóng cửa thôi là đã không còn chỗ để đặt chân xuống. Ấy thế mà đối với họ mà nói, nơi đây tuy rất chật chội nhưng lại vô cùng ấm áp.

“Thành viên” lớn tuổi nhất trong gia đình là chú chó tên Hoắc Khứ Bệnh, 6 tuổi, vì vậy chú cũng được chăm sóc đặc biệt hơn một chút khi được chủ đút cơm cho mình. Chú chó này được ông bà nhặt về khi trông thấy chú đang bới thùng rác. Ông Hồ hóm hỉnh cho biết: “Đặt tên nó là Hoắc Khứ Bệnh là vì nó rất thường bị bệnh”. Sau này mỗi khi có thành viên mới xuất hiện, ông bà đều đặt cho chúng một cái tên, và yêu thương như những người con thực sự của mình.

Dụng cụ khám bệnh của bà Tạ

Bà Tạ – vợ ông vốn từng là y tá nên cũng đảm nhận luôn phần chăm sóc sức khỏe, tiêm phòng cho những chú chó mèo. Về điều này, ông cho biết: “Ban đầu khi chúng bị bệnh, chúng tôi đều đưa chúng đến bệnh viện thú y để chữa. Tuy nhiên, vì chi phí quá đắt đỏ, thế nên sau đó chúng tôi đều tự học cách làm”. Ông bà mua ống nghe, kim tiêm, thuốc về nhà, cứ đến thời gian nhất định thì tiêm phòng cho chúng.   

Kể về những người từng đến nhận nuôi, ông Hồ cho biết nhiều người khi đến nhận nuôi thì rất nhiệt tình, nhưng một khi chó mèo mang về bị bệnh, hay phạm lỗi thì không ít người lại bỏ rơi chúng một lần nữa. Ông kể: “Từng có một người nọ đến đây nhận nuôi một chú chó ở đây, nhưng một tháng sau thì chú chó đã chết rồi.”. Thế nên sau đó, ông đều quan sát tỉ mỉ những người đến nhận nuôi động vật, nếu chắc chắn họ thực sự là yêu thương động vật, và sống có trách nhiệm, ông mới dám giao “những đứa con của mình” cho họ.

Nhiều năm qua, hai ông bà cùng những chú chó mèo này đều sống nương tựa lẫn nhau, cũng nhờ chúng mà ông bà luôn cảm thấy vui vẻ, không còn cái cô đơn của tuổi già. Tuy nhiên, ông Hồ vẫn mong rằng những chú chó mèo này sẽ có nơi nương tựa, có nơi sống tốt hơn cho dù bản thân ông cũng không nỡ xa chúng. Ông tâm sự: “Dù thế nào đi nữa, tôi vẫn hi vọng sẽ càng có nhiều người đến nhận nuôi chúng, để chúng có được một chỗ ở thoải mái hơn, có điều kiện sống tốt hơn. Nhưng nếu họ không muốn nuôi nữa, gửi trả về chỗ tôi cũng được, chỉ là đừng để chúng phải sống lang thang một lần nữa…”

Vợ Chồng A Phủ (Tô Hoài): Đọc Truyện Và Phân Tích

Tác giả: Giọng đọc: Sơn Tùng

Các bạn đang lắng nghe chương trình Văn học trong nhà trường, được phát trên website và kênh Youtube chúng tôi Với bản chuyển thể phát thanh, Blog Radio mong rằng thính giả sẽ có dịp hiểu hơn về những tác phẩm trong sách giáo khoa Ngữ văn thời đi học.

Mở đầu chương trình ngày hôm nay là một truyện ngắn rất nổi tiếng của nhà văn Tô Hoài. Ông là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng văn hoá khác nhau trên đất nước ta. Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc. Tiêu biểu là truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”.

Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa.

Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Người ta nói: nhà Pá Tra làm thống lý, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giầu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng. Thế thì con gái nó còn bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buồn.

Nhưng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải con gái thống lý: cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lý.

Mỵ về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào, không nhớ, cũng không ai nhớ. Những người nghèo ở Hồng Ngài thì vẫn còn kể lại câu chuyện Mỵ về làm người nhà quan thống lý.

Ngày xưa bố Mỵ lấy mẹ Mỵ không đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lý, bố của thống lý Pá Tra bây giờ. Mỗi năm đem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô. Đến tận khi hai vợ chồng về già mà cũng chưa xong nợ. Người vợ chết, cũng chưa trả hết nợ.

Cho tới năm ấy Mỵ đã lớn, Mỵ là con gái đầu lòng. Thống lý đến bảo bố Mỵ:

– Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xóa hết nợ cho.

Ông lão nghĩ năm nào cũng phải trả một nương ngô cho người ta, tiếc ngô, nhưng cũng lại thương con quá. Ông chưa biết nói thế nào thì Mỵ bảo bố rằng:

– Con đã biết cuốc nương làm ngô, con làm nương ngô trả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu.

Tết năm ấy, tết vui chơi, trai gái đánh pao, đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi. Những nhà có con gái, bố mẹ không thể ngủ được vì tiếng chó sủa. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách.

Trai đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mỵ.

Một đêm khuya Mỵ nghe tiếng gõ vách. Tiếng gõ vách hẹn của người yêu. Mỵ hồi hộp lặng lẽ quờ tay lên, gặp hai ngón tay lách vào khe gỗ. Một ngón đeo nhẫn. Người yêu Mỵ đeo nhẫn ngón tay ấy. Mỵ nhấc tấm ván gỗ. Một bàn tay dắt Mỵ bước ra.

Sáng hôm sau, Mỵ mới biết mình đang ngồi trong nhà thống lý. Họ nhốt Mỵ vào buồng.

Ngoài vách kia, tiếng nhạc sinh tiền cúng ma rập rờn nhảy múa.

A Sử đến nhà bố Mỵ.

– Tôi đã đem con gái bố về cúng trình ma nhà tôi. Bây giờ tôi đến cho bố biết. Tiền bạc để cưới, bố tôi bảo đã đưa cả cho bố rồi(2)

Rồi A Sử về. Ông lão nhớ câu nói của thống lý dạo trước: cho con gái về nhà thống lý thì trừ được nợ. Thế là cha mẹ ăn bạc nhà giàu kiếp trước, bây giờ người ta bắt con trừ nợ. Không làm thế nào khác được rồi.

Có đến mấy tháng, đêm nào Mỵ cũng khóc.

Một hôm, Mỵ trốn về nhà, hai tròng mắt còn đỏ hoe. Trông thấy bố, Mỵ quỳ, úp mặt xuống đất, nức nở. Bố Mỵ cũng khóc, đoán biết lòng con gái:

– Mầy về chào lạy tao để mày đi chết đấy à? Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt trả nợ. Mày chết rồi không lấy ai làm nương ngô, trả được nợ, tao thì ốm yếu quá rồi. Không được con ơi!

Mỵ chỉ bưng mặt khóc. Mỵ ném nắm lá ngón (một thứ thuốc độc) xuống đất. Nắm lá ngón Mỵ đã đi tìm hái trong rừng. Mỵ vẫn giấu trong áo. Thế là Mỵ không đành lòng chết. Mỵ chết thì bố Mỵ còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ.

Mỵ lại trở lại nhà thống lý.

Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mỵ chết. Nhưng Mỵ cũng không còn nghĩ đến Mỵ có thể ăn lá ngón tự tử. ở lâu trong cái khổ, Mỵ cũng quen khổ rồi. Bây giờ Mỵ tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa. Con ngựa chỉ biết ăn cỏ, biết đi làm mà thôi.

Mỵ cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, lúc nào cũng nhớ lại những việc giống nhau, mỗi năm một mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong lên núi hái thuốc phiện; giữa năm thì giặt đay; đến mùa đi nương bẻ bắp. Và dù đi hái củi, bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm, suốt đời thế. Con ngựa, con trâu làm có lúc, đêm còn được đứng gãi chân, nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này vùi vào việc cả đêm cả ngày.

Mỗi ngày Mỵ càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. ở buồng Mỵ nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông ấy mà trông ra. Đến bao giờ chết thì thôi.

Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên các nhà kho.

Trẻ em đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đốt những lều quanh nương để sưởi lửa. ở Hồng Ngài, người ta thành lệ, cứ ăn tết thì gặt hái vừa đoạn, không kể ngày tháng. ¡n tết thế cho kịp mưa xuân xuống, đi vỡ nương mới.

Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, rét càng dữ.

Nhưng trong các làng Mông Đỏ, những chiếc váy hoa đã được phơi ra mỏm đá, xòe như con bướm sặc sỡ. Hoa thuốc phiện nở trắng lại nở mầu đỏ hau, đỏ thậm, rồi nở mầu tím man mát. Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà.

Ngoài đầu núi, đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mỵ nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bồi hồi.

“Mày có con trai con gái

Mày đi làm nương

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu”.

Tiếng chó sủa xa xa. Những đêm tình mùa xuân đã tới. ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm sân chơi chung ngày tết. Trai gái, trẻ con ra sân ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi kèn và nhảy.

Cả nhà thống lý ăn xong bữa cơm tết cúng ma. Xung quanh chiêng đánh ầm ỹ, người ốp đồng vẫn nhảy lên xuống, run bần bật. Vừa hết bữa cơm tiếp ngay cuộc rượu bên bếp lửa.

Ngày tết, Mỵ cũng uống rượu. Mỵ lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát. Rồi say, Mỵ lịm mặt ngồi đấy nhìn người nhảy đồng, người hát. Nhưng lòng Mỵ đang sống về ngày trước, tai văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước Mỵ thổi sáo giỏi. Mùa xuân đến, Mỵ uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mỵ uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mỵ hết núi này sang núi khác.

Rượu tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả, Mỵ không biết. Mỵ vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mỵ mới đứng dậy. Nhưng Mỵ không bước ra đường. Mỵ từ từ vào buồng.

Chẳng năm nào A Sử cho Mỵ đi chơi Tết.

Bấy giờ Mỵ ngồi xuống giường, trông ra cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Từ nãy Mỵ thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước. Mỵ trẻ. Mỵ vẫn còn trẻ. Mỵ muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với Mỵ, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau. Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mỵ sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra.

Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường.

Em không bắt

Em không yêu

Quả pao rơi rồi…”.

A Sử vừa ở đâu về, lại sửa soạn đi chơi. A Sử thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc vào cổ rồi bịt cái khăn trắng lên đầu. Có khi nó đi mấy ngày mấy đêm. Nó còn đương rình bắt nhiều người con gái nữa về làm vợ. Cũng chẳng bao giờ Mỵ nói.

Bây giờ Mỵ cũng không nói. Mỵ đến góc nhà, lấy ống mỡ, sắn một miếng, bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng.

Trong đầu Mỵ đang rập rờn tiếng sáo. Mỵ muốn đi chơi. Mỵ cũng sắp đi chơi. Mỵ quấn lại tóc. Mỵ với tay lấy cái váy hoa vắt phía trong vách. A Sử sắp bước ra, bỗng quay lại, lấy làm lạ. A Sử nhìn quanh thấy Mỵ rút thêm cái áo.

– Mày muốn đi chơi à?

Mỵ không nói. A Sử cũng không hỏi thêm. A Sử bước lại, nắm Mỵ, lấy thắt lưng trói hai tay Mỵ. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mỵ vào cột nhà. Tóc Mỵ xõa xuống. A Sử quấn luôn tóc lên cột, Mỵ không cúi, không nghiêng được đầu nữa. Trói xong, A Sử thắt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi phẩy tay tắt đèn, đi ra khép cửa buồng lại.

Trong bóng tối, Mỵ đứng im, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn. Mỵ vẫn nghe thấy tiếng sáo đưa Mỵ đi theo những cuộc chơi. “Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào…”. Mỵ vùng bước đi. Nhưng chân đau không cựa được. Mỵ không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mỵ thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa.

Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này, lúc trai đang đến gõ vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi. Mỵ nín khóc, Mỵ lại bồi hồi.

Cả đêm Mỵ phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại tràn trề tha thiết nhớ. Hơi rượu tỏa. Tiếng sáo. Tiếng chó sủa xa xa. Mỵ lúc mê, lúc tỉnh. Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ.

Mỵ bàng hoàng tỉnh. Buổi sáng âm âm trong cái nhà gỗ rộng. Vách bên cũng im ắng. Không nghe tiếng lửa réo trong lò nấu lợn. Không một tiếng động. Không biết bên buồng quanh đấy, các chị vợ anh, vợ chú của A Sử có còn ở nhà, không biết tất cả những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan đã được đi chơi hay cũng đang phải trói như Mỵ. Mỵ không thể biết.

Đời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài, một đời người chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng. Mỵ chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến, vợ chết rồi. Mỵ sợ quá, Mỵ cựa quậy. Xem mình còn sống hay chết. Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói xiết lại, đau đứt từng mảnh thịt.

Có tiếng xôn xao phía ngoài. Rồi một đám đông vào nhà. Thống lý Pá Tra xuống ngựa vứt cương cho “thị sống” (một chức việc đi hầu thống lý như người làm mõ thời trước) dắt ngựa vào tàu. Nghe như bọn họ khiêng theo con lợn, hoặc một người phải trói, vừa vứt huỵch xuống đất, cứ thở phò phò.

A Sử chệnh choạng vào buồng. áo rách toạc một mảnh vai. Cái khăn xéo trắng loang lổ máu, xụp xuống quanh trán. A Sử nằm lăn ra giường. Thống lý Pá Tra bước vào. Theo sau thống lý, một lũ “thống quán” (một chức việc như phó lý) “xéo phải” (như trưởng thôn) và bọn thị sống vẫn thường ra vào hầu hạ, ăn thịt uống rượu, hút thuốc phiện nhà thống lý.

Có người bấy giờ mới nhìn thấy Mỵ phải trói đứng trong cột. Nhưng cũng không ai để ý. Họ xúm lại quanh giường A Sử.

Pá Tra, tay vẫn cầm cái roi ngựa, lại từ từ đi ra. Mỵ nhắm mắt lại, không dám nhìn. Mỵ chỉ nghe hình như có tiếng ông thống lý gọi người ra ngoài.

Mỵ hé nhìn ra, thấy chị dâu bước tới. Người chị dâu ấy chưa già, nhưng cái lưng quanh năm phải đeo thồ nặng quá, đã còng rạp xuống. Người chị dâu đến cởi trói cho Mỵ. Sợi dây gai bắp chân vừa lỏng ra, Mỵ ngã sụp xuống.

Chị dâu khẽ nói vào tai Mỵ:

– Mỵ! đi hái thuốc cho chồng mày.

Mỵ quên cả đau đứng lên. Nhưng không nhích chân lên được. Mỵ phải ôm vai chị dâu. Hai người khổ sở dìu nhau bước ra. Vào rừng tìm lá thuốc, Mỵ nghe nói lại, mới biết chuyện A Sử đi chơi bị đánh vỡ đầu.

Nửa đêm qua, A Sử vào làng tìm đến đám tiếng sáo, tiếng khèn. Nhiều chàng trai làng ấy và các làng khác, chơi quay, thổi sáo suốt ngày, chập tối vừa tan xong chầu rượu trong nhà, bây giờ vẫn còn chưa chịu tan về.

Lúc A Sử và chúng bạn kéo đến, không còn ai chơi trong nhà. Nhưng người ra người vào còn dập dìu quanh ngõ.

A Sử đứng ngoài, tức lắm. Nó bàn với lũ khác, dọa đánh bọn trai lạ bám quanh nhà, khiến bọn A Sử bị vướng không thể vào được.

Bọn A Sử ném vào vách. Ông bố trong nhà ra chửi. Vẫn ném. Ông lão vào trong cửa, bắn ra hai phát súng. Thế là tan những đám hẹn.

Nhưng cũng chưa người trai nào vội về. Họ tản vào các nhà quen trong xóm. Đợi sáng mai lại lên sân đánh pao với con gái trong xóm.

Bọn A Sử cũng không chịu để cánh kia yên. Sáng sớm, khi họ vừa ra đầu ngõ, bọn A Sử đã kéo đến gây sự. A Sử đi trước, nạm vòng bạc rủ xuống tua chỉ xanh đỏ, chỉ riêng con cái nhà quan trong làng mới được đeo. A Sử hùng hổ bước ra. Bọn kia đứng dồn cả lại, xôn xao.

– Lũ phá đám ta hôm qua đây rồi.

– A Phủ đâu? A Phủ đánh chết nó đi!

Một người to lớn chạy vụt ra, vung tay ném con quay thẳng vào mặt A Sử. Con quay gỗ ngát lăng vào giữa mặt. Nó vừa kịp bưng tay lên, A Phủ đã xộc tới, nắm vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp. Người làng nghe tiếng hò hét đổ ra. Bọn trai làng lạ tản hết lên rừng. Mấy người đuổi đón đầu A Phủ.

A Phủ bị bắt sống, trói gô chân tay lại. Vừa lúc thống lý Pá Tra tới. Chúng nó xọc ngang cái gậy, khiêng A Phủ mang về ném xuống giữa nhà thống lý.

Mỵ đi hái được lá thuốc về, thấy trong nhà càng đông hơn lúc nãy. Ngoài sân, dưới gốc đào lại buộc thêm mấy con ngựa lạ.

Mỵ đi cửa sau vào, lé mắt nhìn thấy một người to lớn quỳ trong góc nhà. Mỵ đoán đấy là A Phủ.

Bọn chức việc cả vùng Hồng Ngài đến nhà thống lý dự đám kiện.

Các lý dịch, quan làng thống quán, xéo phải, đội mũ quấn khăn, xách gậy, cưỡi ngựa kéo đến xử kiện và ăn cỗ.

Trong nhà thống lý đã bày ra năm bàn đèn. Khói thuốc phiện tuôn ra các lỗ cửa sổ tun hút xanh như khói bếp. Cả những người chức việc bên làng A Phủ cũng tới. Chỉ bọn trai làng ấy phải ngồi khoanh tay cạnh A Phủ, vì họ bị gọi sang hầu kiện. Bọn chức việc nằm dài cả bên khay đèn.

Suốt từ trưa cho tới hết đêm, mấy chục người hút. Trên nhất là thống lý Pá Tra. Thống lý hút xong một đợt năm điếu, đến người khác, lại người khác, cứ thế lần lượt xuống tới bọn đi gọi người về dự kiện.

Chỉ có đàn bà ngồi trong buồng và đi bên ngoài dòm ngó đám xử kiện và A Phủ quỳ chịu tội ở xó nhà, không được dự tiệc hút ấy.

Một loạt người vừa hút xong, Pá Tra ngồi dậy, vuốt ngược cái đầu trọc dài, kéo đuôi tóc ra đằng trước, cất giọng lè nhè gọi:

– Thằng A Phủ ra đây.

A Phủ ra quỳ giữa nhà. Lập tức, bọn trai làng xô đến, trước nhất, chắp tay lạy lia lịa lên thống lý rồi quay lại đánh A Phủ.

A Phủ quỳ chịu đòn, chỉ im như cái tượng đá…

Cứ mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra quỳ giữa nhà, lại bị người xô đến đánh. Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt giập chảy máu. Người đánh, người quỳ lạy, kể lể, chửi bới. Xong một lượt đánh, kể, chửi, lại hút. Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn qua các lỗ cửa sổ. Rồi Pá Tra lại ngóc cổ lên, vuốt tóc, gọi A Phủ… Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút.

Trong buồng bên cạnh, Mỵ cũng thức suốt đêm, im lặng ngồi xoa thuốc dấu cho A Sử. Lúc nào Mỵ mỏi quá, cựa mình, những chỗ lằn trói trong người lại đau ê ẩm. Mỵ lại gục đầu nằm thiếp. A Sử đạp chân vào mặt Mỵ. Mỵ choàng thức, lại nhặt nắm lá thuốc xoa đều đều trên lưng chồng.

Ngoài nhà vẫn rên lên từng cơn kéo thuốc phiện, như những con mọt nghiến gỗ kéo dài, giữa tiếng người khóc, tiếng người kể lào xào, và tiếng đấm đánh huỳnh huỵch.

Sáng hôm sau, đám kiện đã xong. Mấy người, chẳng biết từ bao giờ, ngủ ngáy ngay bên khay đèn. Bọn xéo phải đang bắc cái chảo đồng và xách ấm nước ra nấu thêm lạng thuốc để hút ban ngày cho các quan làng thật tình, các quan làng còn một tiệc ăn cỗ nữa.

Thống lý mở tráp, lấy ra một trăm đồng bạc hoa xòe bày lên mặt tráp, rồi nói:

– Thằng A Phủ kia, mày đánh người thì làng xử mày phải nộp vạ cho người phải mày đánh là hai mươi đồng, nộp cho thống quán năm đồng, mỗi xéo phải hai đồng, mỗi người đi gọi các quan làng về hầu kiện năm hào. Mày phải mất tiền mời các quan hút thuốc từ hôm qua tới nay. Lại mất con lợn hai mươi cân, chốc nữa mổ để các quan làng ăn vạ mày. A Phủ, mày đánh con quan làng, đáng lẽ làng xử mày tội chết, nhưng làng tha cho mày được sống mà nộp vạ. Cả tiền phạt, tiền thuốc, tiền lợn, mày phải chịu một trăm bạc trắng. Mày không có trăm bạc thì tao cho mày vay để mày ở nợ. Bao giờ có tiền trả thì tao cho mày về, chưa có tiền trả thì tao bắt mày làm con trâu cho nhà tao. Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi. A Phủ! Lại đây nhận tiền quan cho vay.

A Phủ lê hai cái đầu gối sưng bạnh lên như mặt hổ phù. A Phủ cúi sờ lên đồng bạc trên tráp, trong khi Pá Tra đốt hương, lầm rầm khấn gọi ma về nhận mặt người vay nợ. Pá Tra khấn xong, A Phủ cũng nhặt xong bạc, nhưng chỉ nhặt làm phép lên như thế rồi lại để ngay xuống mặt tráp. Rồi Pá Tra lại trút cả bạc vào trong tráp.

Con lợn vừa bắt về cho A Phủ thết làng ăn vạ đã kêu eng éc ngoài sân. Đếm tiền rồi, A Phủ không phải quỳ, phải đánh nữa.

A Phủ đứng lên cầm con dao, chân đau bước tập tễnh, cùng với trai làng ra chọc tiết làm thịt lợn hầu làng.

Trong nhà, thuốc phiện vẫn hút rào rào.

Thế là từ đấy A Phủ phải ở trừ nợ cho nhà quan thống lý. Đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò chăn ngựa, quanh năm một thân một mình rong ruổi ngoài gò rừng. A Phủ đương tuổi sức lực. Đi làm hay đi săn cái gì cũng phăng phăng. Không còn có lúc nào trở về làng bên. Nhưng A Phủ cũng chẳng muốn trở về làm gì bên ấy.

A Phủ cũng không phải người bên ấy. Bố mẹ đẻ A Phủ ở Hắng Bìa. Năm xưa, làng Hắng Bìa phải một trận bệnh đậu mùa, nhiều trẻ con, cả người lớn chết, có nơi chết cả nhà. Còn sót lại một mình A Phủ. Có người làng đói bắt A Phủ đem xuống bán đổi lấy thóc của người Thái dưới cánh đồng. A Phủ mới mười một tuổi, nhưng A Phủ gan bướng, không chịu ở cánh đồng thấp.

A Phủ trốn lên núi, lưu lạc đến Hồng Ngài. Đi làm cho nhà người, lần nữa mùa này sang mùa khác. Chẳng bao lâu A Phủ đã lớn, biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo.

A Phủ khỏe, chạy nhanh như ngựa. Con gái trong làng nhiều cô mê. Nhiều người nói: “Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà. Chẳng mấy lúc mà giàu”. Người ta ao ước đùa thế thôi chứ phép rượu cũng chẳng to hơn phép làng, còn tục lệ cưới xin, mà A Phủ không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc, A Phủ không thể lấy nổi vợ.

Tuy nhiên, đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, A Phủ chẳng có quần áo mới như nhiều trai khác, A Phủ chỉ có độc một chiếc vòng bằng sợi dây đồng vía lằn trên cổ. A Phủ cứ cùng trai làng đem sáo, khèn, đem con quay và quả pao, quả yến đi tìm người yêu ở các làng trong vùng.

Vì thế mà sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài.

Một năm kia, phải khi đang đốt rừng. Hổ gấu từng đàn ra phá nương, bắt mất nhiều bò ngựa. Nhà thống lý lúc nào cũng đầy ngựa trong tàu trước cửa, đầy lưng bò đứng chen chân trong cột cửa, và dê, chó, lợn nằm quanh nhà. Ngày nào cũng lũ lượt hàng mấy chục con đi nương ăn. Bây giờ gặp khi rừng đói, mỗi lần bò ngựa đi nương, A Phủ phải ở lại trông.

A Phủ ở lều hàng tháng ngoài nương. Đêm đến, dồn bò ngựa về nằm chầu nhau ngủ quanh lều.

Mấy ngày A Phủ mê mải đi bẫy dím, không đếm được ngựa. Hôm ấy vào rừng thấy vết chân hổ. A Phủ vội phóng ngựa chạy vờn quanh đàn, dồn chúng quần lại để đếm. A Phủ đếm lại mấy lần. Thiếu một con bò. A Phủ nhào vào rừng, lần theo lốt chân hổ, tìm được con bò đã bị hổ ăn thịt, chỉ còn lại một nửa mình nằm ngay dưới cây thông cụt.

A Phủ nhặt mấy miếng thịt rơi quanh đấy rồi vác nốt nửa con bò về. Nghĩ bụng: “Con hổ này to lắm. Hãy còn ngửi thấy mùi hôi quanh đây. Ta về lấy súng đi tìm, thế nào cũng bắn được”.

Về đến nhà, A Phủ lẳng vai ném nửa con bò xuống gốc đào trước cửa. Pá Tra bước ra hỏi:

– Mất mấy con bò?

A Phủ trả lời tự nhiên:

– Tôi về lấy súng. Thế nào cũng bắn được. Con hổ này to lắm.

Pá Tra hất tay, nói:

– Quân ăn cướp mất bò tao. A Sử đâu! Đem súng đi lấy con hổ về.

Rồi Pá Tra quay lại, bảo A Phủ:

– Mày ra ngoài kia, lấy vào đây một cái cọc, một cuộn dây mây. Tao trói mày đứng chỗ kia. Bao giờ chúng nó bắn được con hổ về thì mày khỏi phải chết. Nếu không được con hổ thì tao cho mày đứng chết ở đấy.

– Tôi được con hổ ấy còn nhiều tiền hơn con bò.

– Lấy cọc dây mây vào đây!

Không nói nữa, như con trâu đã đóng lên tròng. A Phủ lẳng lặng ra vác chiếc cọc gỗ rồi lấy cuộn dây mây trên gác bếp xuống. Tự tay A Phủ đóng cọc xuống bên cột, Pá Tra đẩy A Phủ vào chân cột, hai tay bắt ôm quặt lên. Rồi dây mây cuốn từ chân lên vai, chỉ còn cổ và đầu lúc lắc được.

Đàn bà trong nhà, mỗi khi đi qua đều cúi mặt. Không một ai dám hỏi. Cũng không một ai dám nhìn ngang mắt.

Đến đêm, A Phủ cúi xuống, nhay đứt hai vòng mây, nhích dãn dây trói một bên tay. Nhưng trời cũng vừa sáng. Pá Tra quảng thêm một vòng tròng lọng vào cổ. Thế là A Phủ không cúi, không còn lắc được nữa.

A Sử và lính dõng của thống lý đi đuổi, mấy ngày không lùng bắt được con hổ. Thì cũng mấy ngày A Phủ phải trói đứng góc nhà. Đằng kia, bếp lò bung ngô cao ngang đầu người vẫn hừng hực đỏ rực. Mỗi hôm hai buổi, người ra người vào ăn uống tấp nập. A Phủ đứng nhắm mắt, cho tới khuya.

Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn. Nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mỵ cũng đến chết héo. Mỗi đêm, Mỵ dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần.

Thường khi đến gà gáy, Mỵ dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu, các chị em trong nhà mới bắt đầu ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn.

Mỗi đêm, nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa bùng lên, cùng lúc ấy Mỵ cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng. Mới biết nó còn sống. Mấy đêm nay như thế.

Nhưng Mỵ vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng chết đấy, cũng thế thôi. Mỵ vẫn trở dậy, vẫn sưởi. Mỵ chỉ biết, chỉ còn ở với ngọn lửa. Có đêm A Sử chợt về thấy Mỵ ngồi đấy, A Sử ngứa tay đánh Mỵ ngã xuống cửa bếp. Nhưng đêm sau Mỵ vẫn ra sưởi như đêm trước.

Lúc ấy đã khuya. Trong nhà ngủ yên. Mỵ trở dậy thổi lửa, ngọn lửa bập bùng sáng lên. Mỵ trông sang thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở. Dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen. Thấy tình cảnh thế, Mỵ chợt nhớ đêm năm trước, A Sử trói Mỵ, Mỵ cũng phải trói đứng thế kia. Nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi nó bắt trói đứng người ta đến chết. Nó bắt mình chết cũng thôi. Nó đã bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma rồi, chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết. A Phủ… Mỵ phảng phất nghĩ như vậy.

Đám than đã vạc hẳn lửa. Mỵ không thổi cũng không đứng lên. Mỵ nhớ lại đời mình. Mỵ tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng trốn được rồi, lúc đó bố con thống lý sẽ đổ là Mỵ đã cởi trói cho nó, Mỵ liền phải trói thay vào đấy. Mỵ chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, nhưng làm sao Mỵ cũng không thấy sợ…

Trong nhà tối bưng, Mỵ rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt. Nhưng Mỵ tưởng như A Phủ biết có người bước lại… Mỵ rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ thở phè từng hơi, như rắn thở, không biết mê hay tỉnh.

Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mỵ cũng hốt hoảng. Mỵ chỉ thì thào được một tiếng “Đi đi…” rồi Mỵ nghẹn lại. A Phủ khuỵu xuống không bước nổi.

Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.

Mỵ đứng lặng trong bóng tối.

Trời tối lắm. Mỵ vẫn băng đi. Mỵ đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy xuống tới lưng dốc.

Mỵ thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

A Phủ chưa kịp nói, Mỵ lại vừa thở vừa nói:

– ở đây chết mất.

A Phủ chợt hiểu.

Hai người đỡ nhau lao xuống dốc núi.

Hai người đi ròng rã hơn một tháng. Họ chuyền trên những triền núi cao ngất, lốm đốm nhà, thấp thoáng ruộng, đất đỏ, suối trắng tinh, trông thấy trước mặt mà đi mấy ngày chưa tới. Từ Hồng Ngài xuống qua vùng ruộng ở Mường Quài của người Thái, từ Nậm Cất sang Chống Chia, từ Chống Chia qua dốc Lùng Chùng Phủng lại trở về bờ sông Đà phía giữa châu Phù Yên sang châu Mai Sơn, chỗ đầu mối giao thông của ngoài vùng tự do vào khu du kích của các dân tộc Thái, Dao, Mèo bên kia sông. Rồi họ về trong những làng Mông Đỏ hẻo lánh vùng Phìa Sa. Xa lắm rồi, thống lý không đuổi được nữa… họ nghĩ thế.

Ròng rã, ăn rau rừng, củ nâu, mộc nhĩ, vừa hết mùa mưa, tới Phìn Sa.

Hai người tới Phìn Sa, ở đấy không ai biết đấy là A Phủ, người ở nợ nhà thống lý. Người ta ngỡ đây là hai vợ chồng trong một nhà đông anh em ở bên kia dốc Lùng Chùng Phủng, nương vỡ được ít mà miệng ăn thì nhiều, anh em, vợ chồng phải chia ra, đem nhau đi tìm ăn nơi khác…

Về tác giả và hoàn cảnh sáng tác Vợ chồng A Phủ.

Năm 1942, sau chuyến đi thực tế Tây Bắc, nhà văn đã viết tập Truyện Tây Bắc phản ánh cuộc sống tủi cực của đồng bào dưới ách áp bức bóc lột của thực dân phong kiến và sự giác ngộ cách mạng của họ. Tác phẩm có 3 truyện: Cứu đất cứu mựờng, Mường Giơn, Vợ chồng A Phủ. Tác phẩm đạt giải nhất về truyện và kí của Hội văn nghệ Việt Nam (1954 – 1955).

Nhà văn Tô Hoài nói: “Đất nước và con người miền Tây để thương để nhớ cho tôi nhiều quá tôi không thể bao giờ quên […], hình ảnh Tây Bắc đau thương và dũng cảm lúc nào cũng thành nét, thành người, thành việc trong tâm trí tôi…”

Hình ảnh cô gái ngồi quay sợi bền tảng đá, cạnh tàu ngựa ở đầu truyện đối lập với cảnh giàu sang nhà thống lý. Cô ấy luôn cúi mặt, mặt lúc nào cũng buồn rười rượi vì phải làm con dâu gạt nợ. Lúc đầu bị bắt về làm dâu gạt nợ, đêm nào Mị cũng khóc, Mị đã định về gặp cha lần cuối rồi ăn lá ngón tự tử, nhưng vì thương cha nên thôi, từ đó Mị chấp nhận thực tại và không còn ý định tự tử nữa. “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Cô sống như con rùa trong xó cửa, ngày ngày nhìn thế giới qua cái lỗ bé bằng bàn tay, chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay nắng.

Diễn biến tâm trọng của Mị thể hiện rõ rệt nhất trong đêm tình mùa xuân. Ở trong góc tối, Mị nghĩ đến một mùa xuân tràn đầy sức sống ngoài kia với những đôi trẻ ném pao, tiếng trẻ thơ nô đùa và cả những chiếc váy Mèo sặc sỡ phơi trên những mỏm đá. Tiếng sáo trong đêm ấy như đưa đường, dẫn lối cho tâm hồn Mị. Tiếng sáo từ xa xăm, vảng vất đến gần gụi, thôi thúc Mị uống rượu, uống ừng ực từng bát. Mị còn trẻ, Mị muốn đi chơi. Mị đã toan thay váy áo, quấn tóc nhưng rồi bị A Sử trói đứng vào cột nhà.

Những đêm đông buồn trên rẻo cao, Mị chỉ biết làm bạn với bếp lửa, sống cách biệt với thế giới ngoài kia. Mị đã toan thờ ơ khi A Phủ bị trói đứng nhưng rồi khi nhìn thấy hàng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đen xám, Mị chạnh nhớ đến thân phận mình. Từ hành động bộc phát là cởi trói cho A Phủ, Mị đã chạy theo, đó là hành động tự giác của một con người muốn chạy thoát khỏi kiếp sống nô lệ. Trong Mị luôn ẩn chứa một sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ, chưa bao giờ Mị hết khao khát được sống, được yêu.

Bạn vừa lắng nghe đôi điều cảm nhận về hình tượng nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ. Hy vọng chương trình ngày hôm nay sẽ giúp ích phần nào cho các em học sinh đang ôn thi tốt nghiệp THPT môn Văn, đồng thời giúp tất cả chúng ta tìm lại những ký ức đẹp thời đi học.

Thực hiện: Hằng Nga Minh họa: Hương Giang