Đề Xuất 12/2022 # Tiêu Chuẩn Của Fci Cho Dòng Chó Alaska Malamute / 2023 # Top 21 Like | Asahihotpot.com

Đề Xuất 12/2022 # Tiêu Chuẩn Của Fci Cho Dòng Chó Alaska Malamute / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tiêu Chuẩn Của Fci Cho Dòng Chó Alaska Malamute / 2023 mới nhất trên website Asahihotpot.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nguồn gốc : Xem lịch sử dòng alaska malamute

Ngày ban hành bản tiêu chuẩn gốc có hiệu lực : 14-08-1996.

Công dụng : kéo xe trượt tuyết.

Phân nhóm theo F.C.I.

Nhóm 5: Nhóm chó Spitz và chó cổ xưa.

Phân nhóm 1 Chó kéo xe vùng Bắc Cực.

Không dùng làm nghiệp vụ.

(Tiêu chuẩn của alaska)

Ngoại hình chung: Alaskan Malamute, một trong số những giống chó kéo xe cổ xưa nhất ở vùng Cực Bắc, là một giống chó rất mạnh khoẻ, có khung xương vạm vỡ, ngực sâu và nở nang, mạnh mẽ và thân mình cơ bắp. Chó Malamute đứng thẳng trên bốn chân có một tư thế đầy vẻ năng động và kiêu hãnh, với cái đầu ngẩng cao, cặp mắt cảnh giác và luôn có vẻ chăm chú, thích thú với mọi thứ xung quanh. Đầu của chúng nở rộng, tai có hình tam giác và dựng đứng khi chúng nghe ngóng, cảnh giác. Sống mũi to, chiều ngang chỉ hơi thu lại một chút ở phía chóp mũi so với gốc mũi. Sống mũi không nhọn, cũng không dài và không quá ngắn. Bộ lông dày với lớp lông thô bảo vệ bên ngoài, có chiều dài vừa phải, đủ để bảo vệ lớp lông lót mềm như len ở phía trong. Chó Malamute có nhiều màu khác nhau. Các khoang màu trên mặt cũng có những kiểu phân biệt khác nhau. Phần màu khoang ở mặt thường có kiểu “mũ lưỡi trai”, mặt cũng có thể có toàn bộ là màu trắng hoặc có những sọc màu, hoặc kiểu “đeo mặt nạ”. Đuôi của chúng có lông dày, cuộn tròn trên lưng như một chùm lông vũ. Chó Malamute thường có xương nặng, với những cái chân to khoẻ, bàn chân dày, ngực sâu, bờ vai chắc chắn và mạnh mẽ, tất cả những cái đó là những yếu tố thể chất cần thiết để nâng cao tính hiệu quả cho công việc của chúng. Các bước chạy của chúng chắc chắn, cân bằng, không mệt mỏi và rất hợp lý. Chúng không có ưu thế khi kéo những chiếc xe trượt trong các cuộc đua được thiết kế thuần tuý nghiêng về yếu tố tốc độ. Chó Malamute phải có tố chất khoẻ mạnh, nhẫn nại và bền bỉ, và tất cả những đặc tính của giống chó này, bao gồm cả tính cách, nếu ảnh hưởng tới các tố chất này sẽ bị coi là những lỗi của con chó.

1. CÂN ĐỐI

Độ sâu của ngực tương ứng với khoảng ½ chiều cao tính đến vai và điểm thấp nhất của ngực có thể kéo dài xuống quá khuỷ chân.Chiều dài thân mình, tính từ chóp vai tới cuối xương mông dài hơn so với chiều cao tính đến chóp vai của con chó.

Tính tình: Alaskan Malamute là một giống chó thân thiện, trìu mến, tình cảm và không thuộc loại chó chỉ nghe lời một người chủ duy nhất. Chúng rất trung thành, sẵn sàng xả thân vì chủ, nhiệt tình và luôn sẵn sàng hứng thú chơi đùa, nhưng nhìn chung, chúng gây ấn tượng lớn khi đa phần trở nên chững chạc, nghiêm nghị sau khi trưởng thành.

Đầu: Đầu chó rộng và dài, nhưng không thô nặng và phù hợp với kích thước của con chó. Giống chó này có ánh nhìn biểu lộ tính tình trìu mến của chúng.

Xương sọ: Rộng và tương đối tròn ở khoảng giữa hai tai. Phần phía trước thuôn lại và phẳng ở phần mắt và tròn lại ở phần má. Có một đường lõm nhẹ ở giữa hai mắt. Đường trên của xương sọ gãy gập nhẹ xuống ở điểm tiếp nối với đường sống mũi.

Điểm tiếp giáp giữa trán và sống mũi : Không gập sâu rõ.

2. VÙNG MẶTMũi: Với tất cả các loại màu lông, trừ màu lông nâu đỏ, sắc tố của mũi, môi, mi mắt là màu đen. Màu nâu được chấp nhận giới hạn cho chó có lông màu nâu đỏ. Việc nhạt sắc tố dẫn đến mũi lang về mùa đông (snow nose) được chấp nhân.

Mõm: To, khá lớn so với kích thước sọ. Từ phía sọ tới phía chóp mũi, kích thước của độ rộng mõm (từ trên xuống) và độ sâu mõm (nhìn ngang) giảm nhẹ dần.

Môi: Khép chặt.

Răng/ Hàm: Hàm rộng với các răng to. Các răng cửa cắt với nhau theo hình cắt kéo. Hàm vẩu hay trễ được xác định là lỗi.

Má: Phẳng vừa phải.

Mắt: Nằm xiên trên hộp sọ. Mắc có màu nâu, hình quả hạnh với kích thước trung bình. Mắt màu xanh lơ là một lỗi bị loại bỏ.

Tai: Có kích thước trung bình, nhưng khá nhỏ nếu so sánh với kích thước của đầu. Tai có hình tam giác, chóp tai hơi tròn, nhưng tai khá nhỏ so với kích thước chung của đầu. Tai nằm cách xa nhau, về phía cạnh ngoài và mặt sau của sọ, ngang với góc trên của mắt. Do đó khi tai dựng đứng lên, chúng có vẻ như nằm hẳn ra ngoài hộp sọ. Tai dựng đứng và hướng nhẹ về phía trước, khi chó đang làm việc, tai có thể gập sát vào hộp sọ. Tai chó nằm quá cao bị coi là lỗi.

(Alaska kéo xe trượt tuyết)

3. CỔCổ mạnh mẽ và cong vừa phải.

4. THÂN MÌNH :Thân mình chắc nịch như không ngắn. Thân mình không có dấu hiệu của việc thừa cân nặng, xương phù hợp với kích thước của con chó.

Lưng: Thẳng và hơi dốc nhẹ ở phần hông.

Thắt lưng: Chắc và cơ bắp. Thắt lưng dài có thể làm cho lưng yếu và bị coi là một lỗi.

Ngực : Rất phát triển.

5. ĐUÔINằm ở vị trí trung bình, không cao và không thấp, như tiếp nối với phần cuối xương sống. Đuôi cong trên lưng khi không phải làm việc. Đuôi không cong thành vòng tròn, cũng không vắt xoắn lại hoặc xoắn chặt sát lưng. Lông đuôi của chúng cũng không ngắn như kiểu lông đuôi cáo, chó Malamute có đuôi phủ đầy lông dài và có vẻ bên ngoài phất phơ như lông chim.

6. TỨ CHIChân trước: Chân trước có xương thô nặng và rất cơ bắp. Chân thẳng khi nhìn từ phía trước.

Vai: Xiên vừa phải.

Cổ chân: Ngắn,chắc khoẻ và hơi xiên khi nhìn từ phía bên.

Chân sau: Chân sau to. Khi nhìn từ phía sau, các chân sau chuyển động trên cùng đường thẳng với các chân trước, không hẹp hơn cũng không rộng hơn. Huyền đề ở chân sau không được ưa chuộng và cần cắt bỏ sớm sau khi chó con sinh ra.

Đùi : Cơ bắp phát triển rất to.

Đùi trong: Cong vừa phải.

Khớp cổ chân : Cong vừa phải và nằm thẳng góc với mặt đất.

Bàn chân: Có kiểu bàn chân “giày đi tuyết”, bàn chân khép chặt và dày với lớp đệm bàn chân dày, cứng và chắc chắn. Bàn chân to, các ngón chân khép chặt và rất cong. Có lông bảo vệ giữa các ngón chân. Đệm bàn chân dày và bền bỉ, cứng rắn, móng chân ngắn và khỏe.

5. CHUYỂN ĐỘNG: Chuyển động của chó Malamute luôn ổn định, cân bằng và mạnh mẽ. Chúng nhanh nhẹn so với kích thước và kiểu cấu trúc cơ thể của chúng. Khi nhìn từ phía bên, chân sau thể hiện một lực đẩy rất mạnh mẽ, được truyền tải qua đoạn thắt lưng ngắn và cơ bắp tới phần thân trước. Chân trước tiếp nối lực đẩy từ thân sau bằng những bước chạy nhịp nhàng. Khi nhìn từ phía trước hoặc phía sau, các chân trước và sau chuyển động trên hai đường thẳng, không đá vào trong cũng không đá ra ngoài, không quá gần cũng không quá xa nhau. Ở bước chạy nước kiệu nhanh, các bàn chân thu lại thành một đường nằm chính giữa thân mình. Tất cả các bước chạy cứng nhắc, cũng như các bước chạy không mạnh mẽ, hiệu quả cũng như có vẻ mệt mỏi đều bị trừ điểm.

(Chuyển động của alaska)

6. DA LÔNGLông: Chó Malamute có bộ lông dày, thô cứng ở bên ngoài, lớp lông này không bao giờ quá dài và mềm. Lớp lông lót rậm rạp, dài từ 1 đến 2 in-xơ (2,5cm đến 5cm), mềm xốp kiểu lông len và có bóng mịn như được xoa dầu. Lớp lông ngoài có chiều dài khác nhau, tương xứng với chiều dài lớp lông lót. Lông tương đối ngắn, hoặc dài vừa phải ở bên cạnh người con chó, lông ở vùng quanh vai và cổ, dọc sống lưng, lông ở vùng mông dài hơn và rủ thành nếp, có thể phất phơ. Chó Malamute thường có lớp lông ngắn và kém rậm rạp hơn vào mùa hè. Lông chó Malamute cần phải để tự nhiên, việc cắt xén, tỉa lông không được chấp nhận, trừ việc cắt gọn phần lông ở bàn chân.

Màu: Có màu phổ biến từ các gam màu xám nhạt tới các gam màu xám đen, xám tro và có thể có màu hung tới màu nâu đỏ. Các sợi lông lẫn màu có được chấp nhận với lớp lông lót và các mảng màu chính. Màu thuần nhất duy nhất được chấp nhận là màu trắng. Màu trắng luôn là màu chiếm ưu thế ở phần dưới thân mình, mặt trong và dưới chân, bàn chân, phần khoang mặt. Dọc lông trắng ở trán, vòng lông trắng quanh cổ hoặc mảng lông trắng ở gáy nếu có sẽ làm tăng vẻ hấp dẫn, và được chấp nhận. Chó Malamute có màu lông như kiểu “mặc áo choàng” – các vết màu bị chia cắt trên thân mình hoặc thay đổi gam màu lông trên lưng không được ưa chuộng.

7. KÍCH THƯỚC VÀ CÂN NẶNGCó sự khác biệt tự nhiên về kích thước của giống chó. Chiều cao và cân nặng lý tưởng như sau :

Chó đực: cao 63,5 cm đến vai (25 inches) – nặng 38 kg (85 cân Anh).Chó cái: cao 58,2cm đến vai (23 inches) nặng 34 kg (75 cân Anh).

Tuy nhiên, kích thước phải tương xứng với cân nặng, để con chó không có vẻ nặng nề ảnh hưởng đến tổng thể, cũng như về sự cân đối, chuyển động và các chức năng khác mà nó phải thực hiện. Những con chó có kích thước và cân nặng gần với kích thước ký tưởng được ưa chuộng.

8. CÁC ĐIỂM CHÍNH Khi đánh giá chó Alaskan Malamutes, chức năng của chúng là kéo xe trượt tuyết với khối lượng nặng ở vùng cực Bắc được cân nhắc đến đầu tiên và trên tất cả mọi thứ khác. Mức độ trừ điểm đánh giá của con chó phụ thuộc vào sự khác biệt của con chó đó với mô tả về con chó Malamute lý tưởng và phụ thuộc vào những lỗi cụ thể mà có thể ảnh hưởng đến khả năng làm việc thực tế cả con chó. Bốn chân của con chó Malamute cần phải thể hiện một sức mạnh phi thường và một lực kéo đẩy cực mạnh. Bất cứ một dấu hiệu nào về sự thiếu vững chắc của chân và cổ chân, cả trước và sau, các lỗi khi đứng hoặc vận động đều bị coi là các lỗi nặng. Các lỗi thường gặp với phần chân là: bàn chân bị bẹp, xoè rộng, khuỷu chân sau chụm nhau (chân bò), cổ chân bị lỗi, vai thẳng, chân không gập góc đủ mức cần thiết, bước chạy cứng nhắc (hoặc các bước chạy khác không cân bằng, khoẻ mạnh và chắc chắn), bước chạy quá rộng (ranginess), quá ngắn, hẹp (shallowness), uể oải (ponderousness), xương mạnh hoặc tổng thể tứ chi không mạnh mẽ, cân đối.

9. LỖI Bất cứ khác biệt nào so với các điểm nêu trên đều được coi là lỗi và mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng đến con chó

10. CÁC LỖI PHẢI LOẠI BỎ Hung dữ hoặc quá nhút nhát.Mắt màu xanh lơ.Các con chó có dấu hiệu không bình thường về thể chất và tinh thần đều bị loại.Ps: Chó đực ở tư thế bình thường phải có hai tinh hoàn lộ rõ trong bìu.

Bản Tiêu Chuẩn Chó Rottweiler Thuần Chủng Của Fci / 2023

Bản dịch tiêu chuẩn của dòng chó Rottweiler được biên dịch ra tiếng việt bởi anh Phạm Hùng và đăng tải lần đầu trên diễn đàn chúng tôi vào ngày 05/11/2008 bởi thành viên TaiVenh (Tai Vểnh); đROTTWEILER ể bảo đảm sự tôn trọng cao nhất đến người dịch, Tùng Lộc Pet xin phép được đăng tải nguyên văn, không chỉnh sửa bất cứ nội dung nào.

NGUỒN GỐC: Nước Đức

NGÀY BAN HÀNH TIÊU CHUẨN CÓ HIỆU LỰC CHÍNH THỨC: 06.04.2000.

CÔNG DỤNG: Làm vật nuôi trong nhà, làm chó cảnh sát, làm nghiệp vụ và làm các công việc khác.

PHÂN LOẠI F.C.I:

Nhóm 2: Chó Pinscher, chó Schnauzer, chó Ngao, chó chăn gia súc vùng núi của Thuỵ Sỹ và các giống chó khác.

Phân nhóm 2.1: Chó Ngao. Có thể dùng để làm nghiệp vụ.

TÓM TẮT LỊCH SỬ:

Giống Rottweiler được xem như là một trong những giống chó cổ xưa nhất. Nguồn gốc của nó có từ thời La Mã. Những con chó thời đó được nuôi để chăn lùa gia súc, chúng được mang qua bên kia dãy Alpơ cùng với quân đội La Mã để bảo vệ con người và chăn dắt gia súc cho họ.

Tại vùng Rottweil, chúng được nuôi lẫn và lai giống tự nhiên với những con chó địa phương được nuôi dưỡng quanh đó. Nhiệm vụ chính của Rottweiler lúc đó là chăn dắt và bảo vệ những bầy gia súc cũng như bảo vệ chủ và gia tài của chủ chúng. Giống chó này có tên gọi bắt nguồn từ tên thị trấn cổ Rottweil – và ban đầu được biết đến dưới cái tên “con chó của anh hàng thịt thị trấn Rottweil”. Những người bán thịt nhân giống chó thuần chủng này vì sự hữu ích và năng lực của chúng.Thông thường, kể cả những con chó chuyên dùng cho mục đích canh gác và chăn lùa gia súc cũng có thể được dùng để kéo xe.

Vào đầu thế kỷ thứ 20, nhiều giống chó khác nhau được cảnh sát sử dụng và Rottweiler là một trong số những giống chó được thử nghiệm. Nó nhanh chóng chứng tỏ sự thích nghi với các nhiệm vụ của cảnh sát nên được chính thức công nhận là “chó cảnh sát” vào năm 1910.

Mục đích của những nhà nhân giống Rottweiler là tạo ra một con chó có sức mạnh dồi dào, bộ lông đen với những vùng lông khoang màu vàng đỏ rõ rệt, có vẻ ngoài mạnh mẽ và không thiếu sự quý phái và đặc biệt phù hợp để làm vật nuôi trong nhà, làm chó cảnh sát và làm nghiệp vụ.

NGOẠI HÌNH CHUNG: Rottweiler là một con giống chó có kích thước từ trung bình tới lớn, thân hình khoẻ mạnh, vạm vỡ, không quá nặng cũng không quá nhẹ, không quá gầy yếu cũng như chân cẳng không dài lêu nghêu. Một con chó có các tỷ lệ thân hình đúng, chắc chắn và cơ thể lực lưỡng là những dấu hiệu phản ánh sức mạnh rất lớn, độ linh hoạt và dẻo dai, bền bỉ.

TỶ LỆ QUAN TRỌNG: Chiều dài thân, tính từ xương ức đến chỏm xương mông, dài hơn chiều cao tính đến vai tối đa là 15%. (*)

TÍNH CÁCH: Dễ bảo, điềm tĩnh và thích trẻ em, tận tâm, tuân thủ mệnh lệnh, rất sẵn sàng và hứng thú làm việc. Vẻ bề ngoài của Rottweiler phải tự nhiên và chất phác, tính tình của chúng thì tự tin, thần kinh vững vàng và không hề sợ hãi. Rottweiler luôn phản ứng lại với những gì xung quanh một cách rất cảnh giác.

Đầu:

PHẦN XƯƠNG SỌ:

Hộp sọ: Xương sọ có chiều dài trung bình, nở rộng ở phần giữa hai tai. Trán cong vừa phải khi nhìn từ phía bên. Xương chẩm rất phát triển nhưng không lộ rõ.

Điểm tiếp giáp giữa trán và gốc mũi: Gập và lộ rõ

Mũi: Mũi phát triển theo kiểu nở rộng nhiền hơn là thành hình tròn. Lỗ mũi lớn. Mũi luôn có màu đen.

Mõm: phần mặt ở đoạn mõm không được dài hay ngắn trong tương quan với chiều dài xương sọ. Sống mũi thẳng, rộng ở gốc và hơi thon lại.

Môi: có màu đen, nằm khít với nhau. Góc mép không lộ rõ. Các nướu lợi có màu càng tối càng tốt.

Hàm/ Răng: hàm trên và hàm dưới rộng và khỏe. Răng chắc khoẻ, có đủ bộ 42 chiếc răng với miếng cắn hình cắt kéo. Răng cửa hàm trên phủ khít và hơi chờm lên răng cửa hàm dưới. Má: Xương gò má cong và nổi rõ.

Mắt: mắt to vừa phải, có hình hạnh nhân và thường có màu nâu tối. Mi mắt nhắm khít.

Tai: tai có kích thước trung bình, hình tam giác và rủ xuống. Tai mở rộng sang hai bên, nằm trên cao. Với vành tai nằm sát với đầu, sọ có xu hướng trở nên nở rộng hơn.

CỔ: Cổ chắc khoẻ, có chiều dài trung bình, rất cơ bắp, hơi cong, gọn gàng và cử động thoải mái. Không có diềm dưới cổ.

CƠ THỂ:

Lưng: Thẳng và chắc khỏe.

Hông: Ngắn, chắc khỏe và nằm sâu.

Mông: rộng có chiều dài trung bình, hơi tròn, không phẳng cũng không gầy.

Ngực: Nở rộng và sâu (khoảng 50% chiều cao đến vai). Ức rất nở nang và các xương sườn rất cong.

Bụng: phần bụng không thắt lên.

ĐUÔI: Trong điều kiện tự nhiên, đuôi nằm ngang bằng với đường sống lưng. Khi chó nghỉ ngơi, đuôi thường rũ xuống.

TỨ CHI:

CHÂN TRƯỚC: Khi nhìn từ phía trước, chân trước thẳng và không quá gần nhau. Ống chân thẳng và song song với nhau khi nhìn từ bên.

Xương bả vai: nằm rất xiên về phía sau.

Xương cẳng chân trên: Nằm sát với thân mình.

Cổ chân: chắc khỏe, hơi ngả về phía trước, không dốc thẳng đứng.

Bàn chân: tròn, khép chặt và rất cong. Đệm chân cứng, chắc, móng chân ngắn và khoẻ, có màu đen.

CHÂN SAU: Khi nhìn từ phía sau, chân sau thẳng và không nằm quá gần nhau. Khi đứng tự nhiên, tất cả các góc tạo bởi đùi trên với xương hông, đùi trên với đùi dưới, đùi dưới với cổ chân đều là các góc tù.

Đùi trên: dài vừa phải, cơ bắp khoẻ và thô.

Cẳng chân dưới: dài, cơ bắp khoẻ và thô, gân guốc

Cổ chân: Cứng chắc, góc gập cổ chân rất tốt, cổ chân không dốc thẳng đứng.

Bàn chân sau: Hơi dài hơn bàn chân trước, ngón chân khoẻ, cong và khép chặt như bàn chân trước.

CHUYỂN ĐỘNG: Rottweiler là loại chó chạy nước kiệu. Khi chuyển động, phần lưng vẫn ổn định và tương đối chắc chắn. Các bước chuyển động hài hoà, vững chãi, đều đặn, tràn đầy năng lượng, không vướng víu, hạn chế với các bước chạy thoải mái.

BỘ LÔNG:

DA: Da trên phần đầu: tổng thể rất vừa vặn, gọn gàng. Khi chó tập trung, phần trán của chúng có thể có các nếp nhăn nhẹ.

Lông: Lông gồm hai lớp là lớp lông bảo vệ ở ngoài và lớp lông lót bên trong. Lớp lông ngoài dài vừa phải, thô, rậm rạp và phẳng. Lớp lông lót ở dưới không được lộ ra ngoài lớp lông bảo vệ bên ngoài. Lông ở chân sau có thể dài hơn một chút.

KÍCH THƯỚC VÀ CÂN NẶNG:

Màu lông: Màu đen với các mảng màu vàng sậm rất rõ nét ở các vùng: má, mõm, cổ họng, ngực và chân, cũng như ở trên hai mắt và mặt dưới của đuôi.

Chiều cao tới vai với chó đực:

Từ 61 đến 68 cm.

61 – 62 cm: nhỏ 63 – 64 cm: trung bình.

65 – 66 cm: lớn – tốt nhất 67 – 68 cm: Rất lớn

Cân nặng: 50 kg.

Chiều cao tới vai với chó cái:

LỖI:

Từ 56 – 63 cm.

56 – 57 cm: nhỏ 58 – 59 cm: trung bình.

60 – 61 cm: lớn – tốt nhất 62 – 63 cm: rất lớn.

Cân nặng: Khoảng 42 kg.

Bất cứ các điểm khác biệt so với những đặc điểm nên trên đều được coi là lỗi và mức độ nặng nhẹ được đánh giá theo từng lỗi của các bộ phận và mức độ ảnh hưởng của lỗi đó đến tổng thể con chó.

CÁC LỖI PHẢI LOẠI BỎ:

Ngoại hình chung: Người mảnh mai, gầy yếu, chân cẳng lêu ghêu. Cơ bắp và xương quá mảnh.

Đầu: Kiểu đầu chó săn. Đầu vót nhọn, mảnh mai, quá ngắn, quá dài hoặc đầu thô kệch. Trán phẳng (Điểm tiếp giáp giữa mũi và sống mũi không có hoặc gập nhẹ).

Mặt: Mõm dài hoặc nhọn, mũi có rãnh xẻ ở giữa, sống mũi cong (kiểu Roman) hoặc lõm xuống (kiểu lòng đĩa); sống mũi gồ lên; mũi màu nhạt hoặc lốm đốm.

Môi: Rủ xuống, có màu hồng hoặc loang lổ, khoé mép lộ rõ.

Hàm: Hàm dưới thuôn nhọn lại.

Miếng cắn: Cắn cong kiểu càng cua cắp.

Má: má quá lồi.

Mắt: Sáng, nằm quá sâu hoặc lồi, mắt quá tròn, không có mi mắt.

Tai: Nằm quá thấp, nặng nề, dài, buôn chùng xuống hoặc ngược ra sau. Các kiểu tai phất phơ, ve vẩy hoặc không đối xứng.

Cổ: Quá dài, mảnh mai, thiếu cơ bắp, có diềm cổ.

Thân mình: Quá dài, quá ngắn hoặc quá thon.

Lưng: Quá dài, yếu, lưng võng xuống hoặc cong lên.

Mông: Mông quá xiên, quá ngắn hoặc quá dài, quá phẳng.

Lồng ngực: Lồng ngực phẳng hoặc tròn như thùng rượu, quá thon lại ở phía sau.

Đuôi: Nằm quá cao hoặc quá thấp.

Chân trước: Chân nhỏ hoặc chân cong. Vai dựng thẳng. Khuỷ chân trước chụm vào hoặc vểnh ra. Cẳng chân trên quá dài, quá ngắn hoặc quá thẳng. Cổ chân yếu hoặc dựng thẳng đứng. bàn chân xoè rộng. Ngón chân quá dẹp phẳng hoặc quá cong. Lỗi về hình dạng ngón chân. Móng chân có màu nhạt.

Chân sau: Đùi thẳng, khuỷu chân quá gần nhau, chân vểnh ra hoặc chân vòng kiềng. Các khớp nối xương có góc quá nhỏ hoặc quá lớn. Có móng treo.

Da: Da trên đầu nhăn thành vết.

Lông: Mềm, quá dài hoặc quá ngắn. Lông gợn sóng, thiếu lớp lông lót.

Màu lông: Các mảng màu vá có màu khác với màu quy chuẩn, các mảng màu không rõ ràng. Các mảng màu lan ra quá rộng.

Tính tình: Lo lắng, bồn chồn, sợ hãi, nhút nhát, sợ tiếng nổ, khói lửa (ví dụ: đạn súng nổ), hoang dã, quá nghi ngờ, thần kinh yếu ớt.

Tổng thể: Thiếu những đặc trưng chung về giới, ví dụ: chó đực mảnh mai, chó cái quá cơ bắp.

Răng: Vẩu hoặc trễ hàm răng/ miếng cắn. Mõm nhăn nhúm, thiếu bất cứ 1 răng cửa, răng nanh, răng tiền hàm, răng hàm nào.

Mắt: Mí mắt quặm vào hoặc chĩa ra, mắt có màu vàng, mắt có màu khác nhau.

Đuôi: Đuôi quăn, đuôi vòng, đuôi lệch sang bên.

Lông: Lông dài hoặc lượn sóng rõ rệt.

Màu: Chó không có màu đặc trưng của chó Rottweiler (màu đen với các mảng vá màu vàng sậm). Có vệt vá màu trắng.

Tất cả các con chó có thể trạng hoặc hành vi không bình thường đều bị loại bỏ.

(*) Tiêu chuẩn chó Rotweiller của AKC quy định tỷ lệ dài / cao là 10:9 Tham khảo bài viết về giá chó Rottweiler tại Việt Nam

Lưu ý: Chó đực cần phải có 2 tinh hoàn lộ rõ trong bìu.

Các bạn có nhu cầu sở hữu một bé chó Rottweiler xinh xắn, hoặc tư vấn dịch vụ phối giống chó Rottweiler xin vui lòng liên hệ Tùng Lộc Pet theo thông tin bên dưới:

Để phục vụ chu đáo và tư vấn những thông tin tốt nhất, quý khách vui lòng đặt lịch xem chó trước qua điện thoại theo số 0826880528 hoặc nhắn tin qua Fanpage chính thức của Tùng Lộc Pet . Xin chân thành cảm ơn! Trần Khánh Tùng

Trụ sở chính Miền Bắc: 151 Hồ Dắc Di – Phường Quang Trung – Quận Đống Đa – TP Hà Nội

Địa chỉ tổ hợp trại chó: Ngõ 143 Thúy Lĩnh – Phường Lĩnh Nam – Quận Hoàng Mai – Hà Nội

Trại chó giống chuyên dòng Shiba: Đề Trụ – Xã Dương Quang – Huyện Gia Lâm – Hà Nội

Trung tâm trông giữ và phối giống Labrador Retriever: Ngõ 134 Phạm Văn Đồng – Phường Xuân Đỉnh – Quận Bắc Từ Liêm – Hà Nội

Trại chó sinh sản và phối giống dòng chó Golden Retriever: Nguyễn Hoàng Tôn – Quận Bắc Từ Liêm – Hà Nội

Điểm giao dịch miền Nam: Số 15 đường 19 – Phường Bình An – Quận 2 – TP HCM

Điểm giao dịch tại Hải Phòng: 74/384 Lạch Tray – Đằng Gia – Ngô Quyền – Hải Phòng

Bản Tiêu Chuẩn Của Chó Mini Bull Terrier Thuần Chủng Của Fci / 2023

Tiêu chuẩn chó Mini Bull Terrier thuần chủng theo quy định của FCI được biên dịch và đăng tải lần đầu tại Việt Nam trên website của Tùng Lộc Pet.

FCI là tên viết tắt của Hiệp hội chó giống Thế giới, một tổ chức uy tín mà VKA ở Việt Nam là thành viên. Bản tiêu chuẩn chó Mini Bull Terrier được FCI ban hành ngày 05/07/2011, các bạn có thể truy cập bản Tiếng Anh tại đây.

Tiêu chuẩn số 359 của FCI

CHÓ SỤC BÒ MINI

Phần 3 Giống chó sục bò.

TÓM TẮT LỊCH SỬ: James Hinks người đầu tiên tiêu chuẩn hóa giống chó này vào những năm 1850 và ông chọn đặc điểm đầu hình quả trứng là tiêu chuẩn cho giống chó này. Giống chó này lần đầu tiên được xuất hiện tại Birmingham với ngoại hình giống như hiện tại vào năm 1862. Câu lạc bộ Chó Sục Bò được thành lập vào năm 1887. Tiêu chuẩn của giống chó này khá thú vị vì nó được viết khá chung chung, “Không có giới hạn về cân nặng và chiều cao, nhưng kích thước tối đa phải phù hợp với chất lượng và giới tính của chúng. Các chỉ số của chúng luôn phải cân bằng.”

Những cá thể Chó Sục Bò nhỏ hơn được biết đến từ đầu thế kỷ 19 nhưng không còn được ưa chuộng từ trước Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất và đã bị xóa khỏi Sổ Đăng Ký Giống của Câu lạc bộ Chó giống vào năm 1918. Năm 1938, Đại tá Richard Glyn đã dẫn đầu và cùng một nhóm những người thích giống chó nhỏ này thành lập Câu lạc bộ Chó Sục Bò Mini. Tiêu chuẩn của giống chó này giống với tiêu chuẩn của Chó Sục Bò ngoại trừ đặc điểm giới hạn chiều cao.

NGOẠI HÌNH:Mạnh mẽ, cơ bắp, cân đối và năng động với biểu hiện nhạy bén, cương quyết và thông minh. Đặc điểm độc đáo của chúng là chiếc đầu có hình quả trứng dốc xuống. Vì không phân biệt về kích thước nên chó đực cần trông nam tính và chó cái cần trông nữ tính.

PHẦN XƯƠNG SỌ

Hộp sọ: Đỉnh sọ giữa hai tai gần như phẳng

Mũi: Nên có màu đen. Đầu mũi trúc xuống. Lỗ mũi rộng.

Môi: Sạch và khít.

Hàm / Răng: Hàm dưới sâu và chắc. Răng đều, sạch, khỏe, có kích thước vừa phải, đều với khớp cắn cắt kéo hoàn hảo, đều đặn và hoàn chỉnh, tức là răng trên trùng khít với răng dưới và vuông góc với cung hàm.

Mắt: Hẹp và có hình tam giác, xếch, có màu đen hoặc nâu sẫm gần như đen và mắt sáng. Khoảng cách từ chóp mũi đến mắt xa hơn khoảng cách từ mắt đến đỉnh hộp sọ. Màu xanh lam hoặc hơi lam không phải là màu mắt được mong muốn ở giống chó này.

Tai: Nhỏ, mỏng và hai tai có khoảng cách gần nhau. Tai phải dựng thẳng đứng, hướng lên trên.

Lưng: Ngắn, khỏe, có đường gờ lưng phía sau vai, hơi cong về phía thắt lưng.

Thắt lưng: Rộng, cơ bắp.

Ngực: Nở khi nhìn từ chính diện.

Gạch chân và bụng: Từ ức đến bụng tạo thành một đường cong hướng lên duyên dáng.

Ngoại hình tổng thể: Hai chân trước vững và hoàn toàn song song. Ở chó trưởng thành, chiều dài chân trước phải xấp xỉ độ sâu của ngực.

Vai: Khỏe và cơ bắp nhưng không bị nặng nề. Bả vai rộng, phẳng và ôm sát vào thành ngực và mặt trước có độ dốc về phía sau rất rõ rệt từ dưới lên trên, tạo thành một góc gần như vuông với cẳng tay trên.

Khuỷu: Thẳng và khỏe.

Cánh tay: Xương tròn, khỏe.

Cẳng chân: Dựng thẳng.

Bàn chân trước: Tròn và nhỏ gọn với các ngón chân cong.

Ngoại hình tổng thể: Hai chân sau song song khi nhìn từ phía sau.

Đùi: Cơ bắp.

Khớp (Đầu gối): Khớp bị cong.

Đùi dưới: Phát triển tốt.

Khớp cổ chân: Có góc cạnh tốt.

Cổ chân (Cổ chân sau): Xương bàn chân ngắn và khỏe.

Bàn chân sau: Tròn và nhỏ gọn với các ngón chân cong.

DÁNG ĐI: Khi di chuyển có dáng vẻ nhỏ gọn, những sải chân tự do, nhẹ nhàng, có cảm giác vui tươi. Khi chạy nước kiệu, thân trước và sau di chuyển song song, chỉ dồn về phía đường trung tâm khi di chuyển tốc độ nhanh hơn, chân trước vươn ra tốt và chân sau di chuyển nhẹ nhàng khớp chân và cổ chân linh hoạt, có lực đẩy lớn.

DA:Da căng

Lông: Ngắn, phẳng, đều và thô ráp, có độ bóng mịn. Có thể có một lớp lông lót mềm mại vào mùa đông.

Màu sắc: Đối với bộ lông trắng và trắng tinh. Những vùng da sẫm màu và vân trên đầu sẽ không bị phạt. Đối với bộ lông có màu khác, màu đó sẽ chiếm ưu thế; tất cả những đặc điểm khác đều đồng đều, ưu tiên có vện (brindle). Có thể chấp nhận được màu đen vện, đỏ, nâu vàng và tam thể. Những đốm màu nhỏ trên nền lông trắng là đặc điểm không được ưa chuộng. Màu xanh (blue) và màu nâu sẫm (liver) rất không được ưa thích

Bên trên đều được coi là khuyết điểm và mức độ nghiêm trọng cần được đánh giá dựa trên tỷ lệ ảnh hưởng tới sức khỏe và khả năng thực hiện công việc của giống.

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KHÔNG ĐỦ TIÊU CHUẨN:

Hung dữ hoặc quá nhút nhát.

Bất kỳ con chó nào thể hiện rõ những bất thường về thể chất hoặc hành vi sẽ được coi là không đủ tiêu chuẩn.

Ở những cá thể đực có thêm tiêu chuẩn là tinh hoàn không bị ẩn.

Chỉ những con chó khỏe mạnh về chức năng và sinh học và có hình thái điển hình mới nên được sử dụng để nhân giống.

Theo chiều kim đồng hồ: 1 bắt đầu từ Skull

Tiêu Chuẩn Chó Alaska Thuần Chủng Theo Fci (Tổ Chức Chó Giống Quốc Tế) / 2023

Tiêu chuẩn chó alaska thuần chủng (chó alaska malamute). Trong bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ tiêu chuẩn chó Alaska thuần chủng theo FCI (tổ chức chó giống quốc tế) sau đây:

(ngày ban hành: 14/8/1996)

Xuất xứ: vùng Alaska (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ)

Tiện ích: chó kéo xe trượt tuyết.

Phân loại: Nhóm 5 Spitz và các loại nguyên thủy. Phần 1: chó kéo xe trượt tuyết Bắc Âu

Tổng quan về tiêu chuẩn chó alaska thuần chủng:

Đây là một trong những giống chó kéo xe trượt tuyết lâu đời nhất vùng Bắc Cực. Giống chó này có một bộ khung xương vững chắc, với bộ ngực rộng tạo nên một cơ thể mạnh mẽ và khỏe khoắn.Giống chó alaska thuần chủng có đệm bàn chân rất dày. Chính điều này giúp cho chúng có thể thực hiện nhiều công việc tốt. Đặc biệt là kéo xe trượt tuyết chở người và vật dụng. Chúng có đầu dựng đứng và đôi mắt luôn quan sát, để ý đến sự vật xung quanh.

Giống chó alaska thuần chủng có đầu rộng với tai hình tam giác. Tai chúng thường dựng đứng lên nếu khi có dấu hiệu cảnh báo. Chó alaska malamute có mõm lớn, dạng hình hộp chữ nhật. Mõm chó alaska thuần chủng chỉ thon nhẹ về phía dưới tạo thành góc tù ở đầu mõm.

Chó alaska malamute có một bộ lông dày với hai lớp. Lớp lông bảo vệ bên ngoài thô, cứng và không thấm nước. Lớp lông mềm, đen bên trong có tác dụng giữ ấm cơ thể cho chó trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Giống chó alaska thuần chủng có màu sắc tương đối phong phú. Có thể nhận dạng phân biệt chó alaska qua dấu hiệu trên gương mặt. Mặt chó alaska thuần chủng có thể có một thanh màu hình chữ nhật chạy dọc từ trán xuống mũi hoặc toàn bộ khuôn mặt màu trắng (mặt tim)

Chó alaska malamute là một giống chó có khung xương mạnh mẽ và to lớn. Bàn thân rộng, vững chãi. Ngực nở rộng và sâu với hai vai săn chắc. Cơ địa giống chó alaska thuần chủng rất thích hợp để thực hiện các công việc kéo xe nặng nhọc.

Lưu ý:

Một chú chó alaska thuần chủng phải có bước chạy đều đặn, cân bằng. Và không có dấu hiệu nặng nề, mệt mỏi khi di chuyển. Tiêu chí đánh giá giống chó alaska thuần chủng quan trọng nhất là sức mạnh và độ bền bỉ.

Nếu bất kì chú chó alaska nào không đáp ứng được hai tiêu chí trên (kể cả do tính khí mỗi con) đều bị đánh giá mắc lỗi nghiêm trọng.

Độ sâu của ngực chó alaska thuần chủng bằng ½ chiều cao đến vai của chó. Điểm sâu nhất của ngực nằm ở nơi thất nằm tại nơi tiếp giáp giữa ngực và bụng ở chính giữa hai chi trước.

Chiều dài của cơ thể chó alaska malamute thuần chủng tính từ điểm vai đến điểm phía sau của xương chậu phải nhỉnh hơn chiều cao của cơ thể từ mặt đất đến đỉnh của đôi vai.

Tính cách tiêu chuẩn chó alaska thuần chủng: chó alaska malamute là một giống chó thân thiện và quấn chủ. Chúng không phải là một giống chó độc lập về tính cách. Vì vậy, chó alaska thuần chủng là người bạn trung thành tận tâm, luôn vui vẻ trong gia đình.

Khu vực Xương sọ:

Hộp sọ: rộng và tròn đều giữa hai tai. Thu hẹp dần và trở nên phẳng khi tiếp giáp với mắt. Xương gò má tương đối tròn.Có gờ nhỏ giữa hai mắt. Các rãnh của hộp sọ tương đối nông và gấy khúc ở điểm tiếp giáp với mõm

Mũi: hầu hết là màu đen. Màu mũi nâu (đỏ) chỉ được chấp nhận trên chó alaska thuần chủng màu nâu đỏ.

Mõm: To và mạnh mẽ tương ứng với kích thước hộp sọ. Chiều rộng và chiều sâu giảm nhẹ từ điểm giao giữa mũi và hộp sọ.

Môi: khít vừa phải.

Xương hàm/răng: Xương hàm rộng với hàm răng lớn. Răng hàm trên và hàm dưới xếp cắt kéo khớp nhau. Răng hô hoặc thụt vào bị đánh giá không đáp ứng tiêu chuẩn. Xương má vừa phải, tương đối phẳng.

Mắt: tròng mắt đặt gọn trong hộp sọ. Mắt chó alaska thuần chủng có màu nâu. Hình quả hạnh nhân với kích thước trung bình. Mắt màu xanh cũng không được chấp nhận ở chó alaska thuần chủng.

Tai: có kích thước trung bình. Tuy nhiên, so với đầu tương đối nhỏ. Tai có hình tam giác và hơi tròn ở đỉnh tai. Tai chó alaska thuần chủng được đặt ngay trên các cạnh sau của hộp sọ. Cùng với góc trên của mắt, tạo cho tai trông giống như dựng đứng lên từ hộp sọ. Tai chó alaska malamute hới chếch hướng về phí trước. Tuy nhiên, khi chó alaska thuần chủng đang làm việc. Đôi tai thường được thu vào trong hộp sọ. Tai đặt cao lên phía trên hộp sọ cũng bị coi là một lỗi tiêu chuẩn đối với chó alaska thuần chủng.

Cổ chó Alaska malamute thuần chủng: mạnh mẽ và hơi uốn cong vừa phải.

Thân hình: được cấu tạo gọn gàn. Trên cơ thể không có trọng lượng dư thừa (nhiều mỡ). Khung xương tỷ lệ cân đối với kích thước cơ thể. Lưng cứng và cơ bắp, thẳng và hơi xuôi nhẹ về phía hông. Một cái lưng với hai bên lườn quá dài cũng bị quy vào lỗi tiêu chuẩn đối với chó alaska thuần chủng.

Ngực: Phát triển đều, cân đối.

Đuôi: đặt dọc theo cột sống từ dưới lên. Khi không làm việc, đuôi chó alaska malamute xuôi xuống phía sau.

Tứ chi tiêu chuẩn chó alaska thuần chủng:

Chân trước: chắc chắn và cơ bắp. Thẳn thuôn các khuỷu chân khi nhìn từ phía trước. Vai: có độ dốc vừa phải.

Khuỷu chân: Ngắn và mạnh và hơi dốc khi nhìn từ phía bên.

Chân sau: Chân sau rộng. Khi nhìn từ phía sau, chân thẳng và di chuyển đúng theo sự chuyển động của chân trước. Không quá gần hoặc quá rộng.

Đùi: Cơ bắp và chắc chắn.

Khớp: vừa phải cong và hơi chếch xuống.

Bàn chân: kiểu như giày tuyết. Với đệm bàn chân dày dặn. Tạo thành vóc dáng chắc chắn và gọn gàng. Bàn chân to, ngón chân khít nhau và cong. Có lớp lông phát triển để bảo vệ giữa các ngón chân. Nệm bàn chân dày và cứng. Móng chân ngắn và chắc chắn.

Di chuyển: giống chó alaska thuần chủng có dáng đi uyển chuyển, cân bằng và mạnh mẽ. Chúng tương đối nhanh nhẹn so với kích thước cơ thể và bộ khung xương của mình. Khi quan sát từ phía bên hông. Chân sau cho thấy nhưng bộ phận tạo động lực và được truyền qua hệ cơ bắp dồn lên chân trước. Các chân trước tiếp nhận chuyển động từ chân sau một cách nhịp nhàng.

Khi quan sát từ phía trước và phía sau. Chân chó Alaska malamute di chuyển đúng trên một đường thẳng. Không quá gần hoặc quá rộng. Khi di chuyển nhanh. Bàn chân sẽ dồn về phía trọng tâm của cơ thể. Với bất kỳ con chó alaska nào có dáng đi cứng nhắc, nặng nề hoặc cà nhắc đều không đạt tiêu chuẩn chó alaska thuần chủng.

Bộ lông chó alaska thuần chủng:

Chó alaska malamute có lớp lông bảo vệ bên ngoài dày, thô và không thấm nước. Lớp lông mềm dày bên trong dài từ 3-5 cm. Lớp lông bên ngoài có chiều dài thay đổi theo từng khu vực trên cơ thể cũng như lớp lông lót bên trong. Lông dọc theo chiều dài thân tương đối ngắn. Lông phát triển hơn xung quanh vai và cổ, phần dưới bụng, mông. Vào những tháng mùa hè, lông chó alaska malamute thường ngắn và thưa hơn. Bộ lông được mọc tự nhiên. Việc cắt tỉa lông không được chấp nhận trong tiêu chuẩn chó alaska thuần chủng. Ngoại trừ việc tỉa gọn ở bàn chân cho sạch sẽ.

Màu sắc chó alaska thuần chủng: tương đối đa dạng. Bao gồm: xám nhạt đậm dần qua màu trung gian đến màu đen.

Sự phối màu có thể được chấp nhận ở lớp lông lót. Tô điểm và trang trí. Màu đơn sắc duy nhất được chấp nhận là màu trắng toàn thân (từ mặt đến toàn bộ chiều dài cơ thể. Màu sắc phải đồng đều trên cơ thể. Các mảng màu bị vỡ hoặc lem đều không được chấp nhận.

Chiều cao/trọng lượng trung bình:

Chó đực (63,5 cm-38 kg)

Chó cái (58,5 cm – 34 kg)

Chiều cao tính từ mặt đất lên đến vai.

Việc đánh giá chó alaska thuần chủng cần được xem xét tổng thể trên nhiều khía cạnh. Không chỉ là yếu tố đáp ứng công việc vận chuyển hàng hóa nặng ở Bắc cực. Mức độ sai lệch phải được so sánh với mô tả tiêu chuẩn chó alaska malamute lý tưởng. Và sự sai lệch đó phải thực sự ảnh hưởng đến khả năng làm việc của chó alaska thuần chủng. Chân của chó alaska malamute phải thể hiện được sức mạnh, sức đẩy và kéo mạnh mẽ.

Các dấu hiệu bất ổn ở chân và bàn chân. Cả phía trước và phía sau. Khi đứng hoặc di chuyển. Đều bị đánh giá phạm lỗi nghiêm trọng. Những sai sót này chủ yêu là : chân choãi ra ngoài, cổ chân xấu, vai thẳng, dáng đi cứng nhắc (hoặc cà nhắc, không bình thường), xương yếu, hay mất cân đối tổng thể.

Bất kỳ vấn đề nào sai khác với các điểm nêu trên đều được coi là lỗi và mức độ nghiêm trọng mà lỗi cần được xem xét phải tỷ lệ chính xác với mức độ và ảnh hưởng của nó đối với sức khỏe và cuộc sống của chó.

Các lỗi về hành vi khác:

Chó hung hăng hoặc quá nhút nhát.

Bất kỳ con chó nào thể hiện rõ ràng bất thường về thể chất hoặc hành vi sẽ bị loại.

Mắt xanh.

Lưu ý:

Chó đực nên có hai tinh hoàn dường như bình thường hoàn toàn đi vào bìu.

Chỉ có những con chó khỏe mạnh về mặt chức năng và lâm sàng, với cấu tạo giống điển hình mới được sử dụng để nhân giống.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tiêu Chuẩn Của Fci Cho Dòng Chó Alaska Malamute / 2023 trên website Asahihotpot.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!