Đề Xuất 2/2023 # Phục Vụ Sức Khỏe Cộng Đồng # Top 4 Like | Asahihotpot.com

Đề Xuất 2/2023 # Phục Vụ Sức Khỏe Cộng Đồng # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phục Vụ Sức Khỏe Cộng Đồng mới nhất trên website Asahihotpot.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bệnh dại

Ngày đăng: 07:47:08 21/10/2014

Bệnh dại thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm

BỆNH DẠI

(Rabies)

ICD-10 A82: Rabies

Bệnh dại thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm

Đặc điểm của bệnh:

– Bệnh dại là bệnh nhiễm vi rút cấp tính của hệ thống thần kinh Trung ương từ động vật lây sang người bởi chất tiết, thông thường là nước bọt bị nhiễm vi rút dại. Hầu hết các trường hợp phơi nhiễm với bệnh dại đều qua vết cắn, vết liếm của động vật mắc bệnh dại, đôi khi có thể bị nhiễm qua đường tiếp xúc như hít phải khí dung hoặc ghép tổ chức mới bị nhiễm vi rút dại. Khi đã lên cơn dại, kể cả động vật và người đều dẫn đến tử vong.

– Giai đoạn tiền triệu chứng: thường 1- 4 ngày, biểu hiện cảm giác sợ hãi, đau đầu, sốt, mệt mỏi, khó chịu, cảm giác tê và đau tại vết thương nơi vi rút xâm nhập.

– Giai đoạn viêm não thường biểu hiện mất ngủ, tăng cảm giác kích thích như: sợ ánh sáng, tiếng động và gió nhẹ. Ngoài ra, còn có rối loạn hệ thần kinh thực vật như giãn đồng tử, tăng tiết nước bọt, vã mồ hôi, hạ huyết áp, đôi khi có biểu hiện xuất tinh tự nhiên.

– Bệnh tiến triển theo hai thể: thể liệt kiểu hướng thượng (hội chứng Landly) và thể cuồng.

– Bệnh thường kéo dài từ 2- 6 ngày, đôi khi lâu hơn và chết do liệt cơ hô hấp.

– Chẩn đoán xác định: bằng xét nghiệm kháng thể miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (IFA) từ mô não hoặc phân lập vi rút trên chuột hay trên hệ thống nuôi cấy tế bào. Có thể dựa vào kết quả xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang của các mảnh cắt da đã làm đông lạnh lấy từ dìa tóc ở gáy bệnh nhân hoặc chẩn đoán huyết thanh bằng phản ứng trung hoà trên chuột hay trên nuôi cấy tế bào. Ngày nay, với kỹ thuật mới có thể phát hiện được ARN của vi rút dại bằng phản ứng PCR hoặc phản ứng RT-PCR.

    Tác nhân gây bệnh

    – Tác nhân gây bệnh là vi rút dại (Rhabdovirus) thuộc họ Rhabdoviridae, giống Lyssavirus.

    – Hình thái: hình viên đạn một đầu tròn, đầu kia dẹt. Vi rút có chiều dài trung bình 100-300 nm, đường kính 70-80 nm. Sự thay đổi chiều dài của vi rút phản ánh sự khác biệt giữa các chủng vi rút dại. Bộ gen di truyền là ARN.

    Vi rút dại bao gồm protein 67%, lipid 26%, ARN 1% và cacbonhydrat 3%. Vỏ vi rút có hai màng mỏng phospholipid xen kẽ với những gai. Nucleocapside có cấu trúc đối xứng hình trụ. Nhân là ARN một sợi, được bảo vệ bằng những đơn vị nucleoprotein mang tính đặc hiệu của họ Rhabdo, vỏ ngoài của vi rút là chất lipid nên dễ bị phá hủy trong các chất dung môi của lipid.

    – Sức đề kháng của vi rút dại yếu, dễ bị bất hoạt ở nhiệt độ 560C trong vòng 30 phút, ở 600C/5-10 phút và ở 700C/2 phút. Vi rút bị mất độc lực dưới ánh sáng và các chất sát khuẩn ở nồng độ 2-5%. Trong điều kiện lạnh 40C, vi rút sống được từ vài tuần đến 12 tháng, ở nhiệt độ dưới 00C sống được từ 3 – 4 năm. Vi rút dại được bảo tồn chủ yếu trong cơ thể vật chủ.

    Có 2 chủng vi rút dại: vi rút dại đường phố là vi rút dại tồn tại trên động vật bị bệnh và vi rút dại cố định (cố định thời gian ủ bệnh trên thỏ). Chủng vi rút dại cố định được dùng để làm vắc xin dại lần đầu tiên bởi L.Pasteur.

      Đặc điểm dịch tễ học:

      Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh dại phổ biến trên toàn thế giới. Mỗi năm có trên 10 triệu người bị súc vật dại hoặc nghi dại cắn phải đi điều trị dự phòng bằng vắc xin dại, có khoảng 60.000 – 70.000 người bị chết do bệnh dại, phần lớn được báo cáo từ các nước thuộc vùng nhiệt đới, nơi có tới 3/4 dân số thế giới sinh sống.

      Tại Châu Âu, bệnh dại chủ yếu xảy ra ở CHLB Đức, Áo, Thụy Sỹ, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary. Bệnh dại đã lưu hành rộng rãi ở loài cáo, số trường hợp mắc dại ở miền Tây Châu Âu đã giảm rất mạnh từ năm 1992.

      Thú hoang dã bị bệnh dại ở Mỹ, Canada thường xảy ra ở gấu trúc, chồn, cáo, chó sói đồng và dơi. Những năm gần đây, các nước này cũng phải sử dụng tới 1,2 triệu liều vắc xin tại các trung tâm phòng dại.

      Ở Châu Phi và Châu Á, chó là nguồn gây bệnh chủ yếu, số người chết hàng năm vì bệnh dại rất cao: Ấn Độ hàng năm có khoảng 3 triệu người phải tiêm vắc xin dại trong đó 40% là trẻ em, Trung Quốc năm 2000 có 226, năm 2006 có 2500 và năm 2007 có 3.300 người chết vì bệnh dại. Tình trạng tương tự cũng xảy ra tại Nepal, Sri- Lanca, Băng La Đét, Indonesia.

      Ở các nước Đông Nam Á, hàng năm tỷ lệ chết vì bệnh dại chiếm 80% trên toàn thế giới. Từ năm 2004 đến nay bệnh dại tăng lên rõ rệt ở các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam.

      Ở Việt Nam, bệnh dại lưu hành và phát triển ở hầu hết các tỉnh/thành phố. Những năm 1990-1995, tỷ lệ tử vong là 0,43/100.000 dân, trung bình mỗi năm có 350-500 ca tử vong. Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 92/TTg về tăng cường phòng chống bệnh dại. Các biện pháp phòng chống bệnh dại đã được tăng cường và kết hợp nên số ca tử vong từ năm 1996 – 2007 đã giảm 75% so với năm 1995. Từ năm 2004 đến nay, bệnh dại có chiều hướng tăng lên, tập trung tại một số tỉnh: Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Tây, Gia Lai, Bến Tre, Bình Thuận. Năm 2007, cả nước có 131 trường hợp tử vong do bệnh dại.

        Nguồn truyền bệnh.

        Ổ chứa vi rút dại trong thiên nhiên là động vật có vú máu nóng, nhất là ở chó hoang dã như chó sói đồng (Coyotes), chó sói (Wolves), chó rừng (Jackals) và chó nhà (Candae). Ngoài ra, ổ chứa vi rút dại còn ở mèo, chồn, cầy và những động vật có vú khác.

        Ở Nam Mỹ, Trung Mỹ, Mexico có ổ chứa vi rút ở loài dơi hút máu và dơi ăn hoa quả. Ở Mỹ, Canada, Châu Âu còn thấy loài dơi ăn sâu bọ bị nhiễm vi rút dại.

        Ở các nước đang phát triển, ổ chứa chủ yếu ở chó, ngoài ra còn thấy ở mèo, chuột…

        Ở Việt Nam, chó là ổ chứa vi rút dại chủ yếu chiếm 96-97% sau đó là mèo: 3- 4%, động vật khác (thỏ, chuột, sóc…) chưa phát hiện được.

        Nguồn truyền bệnh dại: Nguồn truyền bệnh dại là động vật có vú hoang dã và động vật sống gần người, nhiều nhất là chó, sau đó là mèo. Về mặt lý thuyết, sự lây truyền từ người bệnh sang người lành có thể xẩy ra khi nước dãi của người bị bệnh có chứa vi rút dại. Nhưng trong thực tế, chưa có tài liệu nào công bố, trừ trường hợp cấy ghép giác mạc của người chết vì bệnh dại sang người được ghép.

        Thời kỳ ủ bệnh: Thường thời gian ủ bệnh dại ở người từ 2-8 tuần, có thể ngắn khoảng 10 ngày hoặc dài trên một năm hoặc hai năm. Thời gian ủ bệnh phụ thuộc vào số lượng vi rút xâm nhập vào cơ thể, sự nặng nhẹ của vết thương, khoảng cách xa gần từ vết thương đến não bộ. Vết thương nặng, gần thần kinh trung ương thì thời gian ủ bệnh ngắn.

        Thời kỳ lây truyền: Ở chó và mèo thường từ 3-7 ngày trước khi có dấu hiệu lâm sàng và trong suốt thời kỳ súc vật bị bệnh. Theo WHO, thời kỳ lây truyền bệnh ở chó, mèo trong vòng 10 ngày. Một số nghiên cứu cho thấy dơi và một số động vật hoang dã khác như chồn, đào thải vi rút dại ít nhất là 8 ngày trước khi có triệu chứng lâm sàng và có thể kéo dài tới 18 ngày trước khi chết.

          Phương thức lây truyền

          Bệnh dại được lây truyền qua nước bọt của động vật mắc bệnh bài tiết ra ngoài và theo vết cắn, vết liếm, vết xước trên da bị rách (hoặc qua màng niêm mạc còn nguyên vẹn) vào cơ thể, từ đó theo dây thần kinh đến các hạch và thần kinh trung ương. Khi đến thần kinh trung ương, vi rút sinh sản rất nhanh rồi lại theo dây thần kinh ra tuyến nước bọt. Tại thời điểm này, thần kinh chưa bị tổn thương đáng kể vì thế nhìn bề ngoài con vật vẫn bình thường nhưng nước bọt đã có vi rút dại. Sau đó, vi rút dại hủy hoại dần các tế bào thần kinh làm xuất hiện các triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh dại.

          Sự lây truyền bệnh dại qua đường không khí đã được chứng minh trong quần thể loài dơi sống ở hang động và ở môi trường phòng thí nghiệm. Tuy vậy, cũng rất hiếm xảy ra. Sự lây truyền từ loài dơi hút máu bị nhiễm vi rút dại đến súc vật nuôi trong nhà cũng gặp ở Châu Mỹ La Tinh. Những loài dơi ăn sâu bọ bị nhiễm vi rút dại ở Mỹ rất hiếm lây truyền bệnh dại sang những súc vật sống trên mặt đất, kể cả súc vật hoang dã hoặc súc vật nuôi trong nhà.

            Tính cảm nhiễm và miễn dịch:

            Tất cả loài động vật máu nóng đều có cảm nhiễm với vi rút dại ở mức độ khác nhau. Tính cảm nhiễm cao nhất là chó, chó sói, mèo, cáo rồi đến trâu, bò, ngựa, lợn, lạc đà, khỉ, gấu, chuột. Trong đó, chó bị mắc bệnh nhiều nhất. Dơi hút máu, dơi ăn hoa quả, dơi ăn côn trùng đều có thể nhiễm bệnh. Loài chim không mẫn cảm với bệnh dại, trừ khi gây bệnh thí nghiệm. Trong thí nghiệm thường dùng thỏ, chuột lang, chuột bạch. Người cũng có cảm nhiễm cao với bệnh dại nhưng kém hơn một số súc vật. Cho đến nay, chưa biết được tính miễn dịch tự nhiên ở người.

            Các biện pháp phòng, chống dịch

            7.1. Biện pháp dự phòng:

            Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe: Cung cấp những thông tin cần thiết về bệnh dại và cách phòng chống bệnh dại, nhất là việc phát hiện súc vật bị bệnh dại, cách xử lý sau khi bị súc vật cắn hoặc tiếp xúc; đến các cơ sở y tế Dự phòng để khám, tư vấn và điều trị dự phòng kịp thời. Phổ biến nội dung, biện pháp thực hiện Nghị định số 05/2007-NĐ-CP về phòng chống bệnh dại ở động vật và ở người để cộng đồng biết và thực hiện.

            Phối hợp thú y và y tế thực hiện giám sát nơi có ổ dịch chó dại cũ, nơi thường xảy ra bệnh dại ở súc vật, những nơi mua bán súc vật nhất là chó, mèo.

            Thực hiện đăng ký, cấp giấy phép cho chủ nuôi chó, mèo; tiêm vắc xin dại có hiệu lực cho đàn chó, mèo đạt trên 85% trong quần thể súc vật nuôi.

            Những người có nguy cơ bị nhiễm vi rút dại như nhân viên thú y, kiểm lâm, làm việc trong phòng thí nghiệm có vi rút dại… cần được gây miễn dịch bằng vắc xin dại tế bào có hiệu lực bảo vệ cao và tiêm nhắc lại theo chỉ định của y tế.

            Những người bị chó, mèo cắn phải thực hiện nghiêm ngặt nội dung sau:

            Xử lý vết thương: Rửa ngay thật kỹ vết cắn bằng nước xà phòng đặc, sau đó rửa bằng nước muối, bôi chất sát trùng như cồn, cồn iốt để làm giảm lượng vi rút tại vết cắn. Chỉ khâu vết thương trong trường hợp vết cắn đã quá 5 ngày. Tiêm vắc xin uốn ván và điều trị chống nhiễm khuẩn nếu cần.

            Bảo vệ bằng miễn dịch đặc hiệu: Dùng vắc xin dại tế bào hoặc dùng cả vắc xin và huyết thanh kháng dại (HTKD) để điều trị dự phòng tuỳ theo tình trạng súc vật, tình trạng vết cắn, tình hình bệnh dại ở súc vật trong vùng. Không được lạm dụng trong sử dụng vắc xin và HTKD.

            Việc khám bệnh nhân bị súc vật cắn hoặc tiếp xúc để có chỉ định điều trị dự phòng bằng vắc xin dại hoặc vắc xin + HTKD phải thực hiện càng sớm càng tốt. Hiệu quả điều trị dự phòng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loại vắc xin, kỹ thuật tiêm, bảo quản sinh phẩm, đáp ứng miễn dịch của người bệnh. Việc giám sát, kiểm soát để thực hiện các nội dung chuyên môn là hết sức cần thiết.

            Phác đồ tiêm bắp: 0,5ml x 5 liều cho một đợt điều trị dự phòng vào ngày 0, 3, 7, 14, 28.

            Phác đồ tiêm trong da: liều đơn 0,1ml x 8 liều cho một đợt điều trị dự phòng vào ngày 0, 3, 7, mỗi ngày tiêm 2 liều đơn vào 2 vị trí khác nhau của vùng cơ Delta, tiêm tiếp vào ngày 28 và ngày 90 kể từ mũi tiêm thứ nhất, mỗi ngày 1 liều vào cơ Delta.

            Tóm tắt điều trị dự phòng người bị súc vật cắn

            Tình trạng vết cắn

            Tình trạng súc vật

            (kể cả súc vật đã được tiêm phòng)

            Điều trị

            Tại thời điểm cắn

            Trong 15 ngày

            Da lành

            Không điều trị

            Da bị xước ở gần thần kinh trung ương

            Bình thường

            Tiêm vắc xin

            Có triệu chứng dại

            Tiêm HTKD

            và vắc xin dại

            Da bị xước nhẹ xa thần kinh trung ương

            Bình thường

            Theo dõi súc vật.

            ốm, triệu chứng dại

            Tiêm vắc xin ngay khi con vật có triệu chứng

            Vết xước nhẹ, xa thần kinh trung ương

            Không theo dõi được con vật

            Tiêm vắc xin ngay.

            Có triệu chứng dại

            Tiêm HTKD và vắc xin

            – Vết thương gần não

            – Vết thương sâu, nhiều

            – Vết thương vùng đầu chi,

            –   Bình thường

            – Không theo dõi được con vật

            Tiêm HTKD và vắc xin phòng dại càng sớm càng tốt

            7.2. Biện pháp chống dịch

            – Điều kiện và thẩm quyền công bố dịch, chống dịch và công bố hết dịch: thực hiện theo Nghị định số 05/2007/NĐ-CP, ngày 09 tháng 01 năm 2007

            – Chuyên môn: Khi con vật đã được xác định mắc bệnh dại phải tiêu hủy ngay (trường hợp không xác định được chủ vật nuôi thì ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm tiêu hủy) để ngăn chặn sự lây truyền bệnh sang súc vật khác và lây truyền sang người.

            + Cách ly, theo dõi những con vật nghi mắc bệnh dại, nhiễm bệnh dại.

            + Vệ sinh, khử trùng tiêu độc toàn bộ chuồng, cũi, dụng cụ chăn nuôi, vận chuyển, môi trường thức ăn, chất thải, các vật dụng khác đã tiếp xúc với con vật mắc bệnh.

            + Tất cả chó, mèo khỏe mạnh trong ổ dịch phải được nhốt, theo dõi.

            + Tiêm bắt buộc cho chó, mèo khỏe mạnh trong ổ dịch và các thôn tiếp giáp, tiêu hủy những con chó, mèo nếu không tiêm.

            + Tất cả những người bị chó, mèo cắn, cào, liếm hoặc tiếp xúc phải thực hiện nghiêm ngặt việc xử lý vết thương, khám và điều trị dự phòng; tuyệt đối không được điều trị bằng thuốc nam

            7.4. Kiểm dịch y tế biên giới:

            Không thực hiện kiểm dịch ở người, chỉ thực hiện kiểm dịch động vật do Ngành thú y thực hiện theo Pháp lệnh thú y 18/2004 PL-UB-TV11, Nghị định 33/2005/NĐ-NĐ-CP, Nghị định số 05/2007-NĐ-CP.

            Nguồn Cẩm nang phòng chống bệnh truyền nhiễm

            Các tin khác

            Tài liệu Hướng dẫn Chăm sóc người nhiễm COVID-19 tại nhà

            Bệnh viêm ruột do Vi-bờ-ri-ô Pa-ra-hê-mô-ly-ti-cút

            Bệnh viêm ruột do Giác đi a

            Bệnh viêm họng, viêm miệng, viêm tim do vi rút Cốc xác ki

            Bệnh viêm da mụn mủ truyền nhiễm

            Bệnh sốt xuất huyết do vi rút Hantan

            Bệnh do Tờ ri cô mô nát

            Bệnh sốt mò

            Bệnh sốt do Rích – két – si – a

            Bệnh sán lá ruột

             

            Old English Sheepdog Sức Khỏe Di Truyền Và Kiểm Tra Sức Khỏe

            Chúng có thể được nhìn thấy bằng màu sắc bao gồm màu xám, màu xanh dương, màu xám, màu xanh hoặc màu lam, và bất kỳ màu nào cũng có thể có dấu màu trắng. Bộ lông có lớp kép và rất dày, với lớp lót chống nước. Chó con của giống được sinh ra màu đen và trắng, và chỉ phát triển màu lông cuối cùng của chúng khi chúng trưởng thành. Mặc dù chiều dài và độ dày tuyệt đối của áo khoác của chúng, chúng không có xu hướng đổ ra ngoài khi được chải, và cần một mức độ bảo dưỡng hàng ngày cao để giữ cho áo khoác của chúng ở trong tình trạng tốt. Tóc có thể phát triển rất dài và nhanh chóng che khuất đôi mắt, có nghĩa là tóc trên mắt phải được cắt hoặc buộc lại để cho phép con chó nhìn thấy!

            Chó chăn cừu kiểu Anh cũ có thể đứng cao tới 24 ”tại các héo, và nặng tới 46kg, với con đực lớn hơn con cái. Chúng nặng và đệm tốt, có dáng đi chậm, lăn và các phương tiện di chuyển nhẹ nhàng và ít vận động.

            Nếu bạn đã rơi cho sự quyến rũ của chó chăn cừu tiếng Anh cũ và mong muốn sở hữu một con chó Dulux của riêng bạn, nó là quan trọng để làm rất nhiều nghiên cứu về giống trước khi cam kết mua hàng. Điều này bao gồm việc tìm hiểu về sức khỏe chung và tuổi thọ của giống chó, chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn trong bài viết này.

            Old English sheepdog tuổi thọ trung bình

            Tuổi thọ trung bình của chó chăn cừu Anh cũ là 10-11 năm dựa trên dữ liệu khảo sát, nhưng dữ liệu thú y đối chiếu cho thấy tuổi thọ trung bình của chó của giống có thể ngắn hơn. Trong khi các giống chó đặc biệt lớn có xu hướng có tuổi thọ ngắn hơn so với các giống nhỏ, tuổi thọ trung bình của chó chăn cừu tiếng Anh cũ vẫn được xếp loại ngắn hơn so với chỉ tiêu cho các giống tương đương có kích thước tương tự.

            Đa dạng di truyền

            Hệ số thống kê lai cận huyết của chó chăn cừu Anh cũ là 9, 7%, cao hơn lý tưởng được chấp nhận đối với giống bố mẹ 6, 25% hoặc thấp hơn. Điều này chỉ ra rằng chó chăn cừu cũ của Anh phải chịu một số tiền hợp lý để lai giống để giữ cho giống có khả thi.

            Bạn đang tìm kiếm lời khuyên thú cưng miễn phí cho chú chó của mình ?. Nhấp vào đây để tham gia cộng đồng thú cưng yêu thích của Vương quốc Anh – PetForums.co.uk

            Thông tin

            Trong khi hình dạng và xây dựng của con chó chăn cừu Old English không gây ra bất kỳ vấn đề cụ thể cho con chó, chiếc áo dài, dày của giống có thể gây ra một số vấn đề. Chủ sở hữu của chó giống cần phải dành một lượng thời gian đáng kể để chải chuốt và chăm sóc lớp lông, vì nó có xu hướng bị mờ và rối, có thể cản trở chuyển động bình thường hoặc làm mờ mắt.

            Kiểm tra sức khỏe

            Hiệp hội Thú y Anh và Câu lạc bộ Kennel giới thiệu các xét nghiệm sức khỏe tiền sinh sản sau đây, nhằm cải thiện sức khỏe tổng thể của giống chó và giảm nguy cơ các vấn đề sức khỏe di truyền.

            Kiểm tra điểm Hip, với điểm số trung bình của hip trên giống là 11.3. Chó mẹ nên nhận điểm hông dưới con số này để được xem là khả thi.

            Thử nghiệm hàng năm cho đục thủy tinh thể di truyền, dị tật đa mắt và teo võng mạc tiến triển.

            Xét nghiệm DNA cho thoái hóa tiểu não.

            Xét nghiệm DNA cho kháng thuốc đa thuốc.

            Xét nghiệm DNA cho rối loạn vận động đường mật chính.

            Các vấn đề sức khỏe khác

            Cũng như các vấn đề về sức khỏe di truyền được đề cập ở trên, chó chăn cừu cũ của Anh cũng được biết là có khả năng bị một số vấn đề sức khỏe di truyền khác, nhưng không phải với tỷ lệ xuất hiện đủ cao mà sàng lọc tiền sinh sản được cung cấp rộng rãi. Những người mua chó chăn cừu cũ có tiềm năng nên tự nhận thức được khả năng xảy ra các vấn đề sức khỏe sau đây:

            Bạo loạn não, dẫn đến mất phối hợp tiến bộ ở chó bị ảnh hưởng.

            Portuntic shunt, một tình trạng trong đó hệ thống tuần hoàn của máu đi qua gan, dẫn đến nguy cơ gây độc tố nguy hiểm trong dòng máu.

            Thiếu máu tan máu qua trung gian miễn dịch, do sự phá hủy của các tế bào máu đỏ.

            Sự xâm nhập của mí mắt, làm cho chúng đảo ngược về phía giác mạc.

            Một rối loạn tự miễn dịch được gọi là hội chứng uveodermatological, mà cuối cùng gây mù lòa và có thể gây tử vong.

            Osteochondrosis của vai ở nam giới của giống, dẫn đến đau, viêm vai và lameness.

            Distichiasis, một tình trạng trong đó lông mi phát triển thêm một hàng lông mi, có thể chà trên giác mạc và dẫn đến đau và đau nhức.

            Tiểu không tự chủ ở phụ nữ bị thiến nếu spaying được thực hiện quá sớm.

            Hình thành tinh thể và đá trong bàng quang.

            Các dạng ung thư khác nhau, đặc biệt là ở tuổi già.

            Đục thủy tinh thể của mắt, đặc biệt là ở tuổi già. Tuy nhiên, chúng thường có thể hoạt động để bảo vệ tầm nhìn của chó.

            Điếc.

            Thuốc Và Sức Khỏe: Bệnh Ghẻ

            Ghẻ là một bệnh dường như phổ biến ở nước ta cũng như một số nước kém phát triển. Người không có chuyên môn về y cũng có thể chẩn đoán được bệnh nhưng cũng có một số bác sĩ đã chẩn đoán… nhầm, vì thế đã có những bệnh nhân bị mắc bệnh ghẻ trên 2 nǎm.rnrnBệnh ghẻ do một loại ký sinh trùng có tên gọi sarcoptes scabiei gây nên, chúng đào hầm và đẻ trứng trong lớp thượng bì của da. Phân và chất thải của chúng là cǎn nguyên gây nên ngứa.Vị trí hay gặp là kẽ ngón tay, lằn chỉ cổ tay, bụng, bẹn, sinh dục, đùi, khe mông, nách. Trẻ em bị cả lòng bàn chân và lưng, mặt. Người lớn hầu như không bị nhiễm ở đầu mặt và 1/2 trên lưng vì ở phần này có nhiều tuyến bã hoạt động, trong chất bã có lưu huỳnh nên ghẻ không tồn tại được. Triệu chứng của ghẻ là những sẩn, mụn nước nhỏ ở cuối đường hầm, rãnh ghẻ. Nếu ghẻ ở sinh dục, nách , bụng trẻ nhũ nhi thì xuất hiện những sẩn cục sẫm màu. Ngứa là một đặc trưng của ghẻ. Dân gian có câu “đau đẻ, ngứa ghẻ, đòn ghen” là vậy. Ngứa nhiều về đêm, ngứa tǎng khi trời nóng, tập thể dục, lao động. Gãi nhiều tạo nên vết cào xước trên da và dày da, chảy nước (eczema hoá), còn được gọi là ghẻ chàm hóa. Ngoài ghẻ thông thường ra còn có loại ghẻ vảy hay ghẻ Na-uy (Norwegiang scabies) gặp ở những người bị suy giảm miễn dịch như AIDS, phạm nhân, bệnh nhân phong, bênh bạch cầu… đặc trưng của loại này là ít ngứa, nhiều vẩy như vẩy nến.rn?rn (Nguồn tin: Báo sức khoẻ và đời sống chuyên đề số 92 5/2004)

            Chó Akita Inu – Giống Chó Hoàng Gia Cho Cộng Đồng Chơi Thú Cưng

            Chó Akita Inu có thân hình to lớn, thể trạng khỏe mạnh, cơ bắp. Nó không phải to theo kiểu thô kệch mà rất cân đối đến hoàn hảo. Phong thái của nó toát ra rõ sự uy nghi, sang trọng của tầng lớp quý tộc. Chó đực cao khoảng 66 – 71 cm, nặng 34 – 54 kg. Con cái cao 61 – 66 cm, nặng khoảng 34 – 50 kg. Chúng có thân hình chắc nịch, mạnh mẽ, cơ bắp, trông rất ấn tượng.

            Mua bán chó Akita Inu tại Việt Nam

            Bạn có bị hoang mang về thông tin mua bán chó Akita 600 nghìn đồng 1 con. Xin lỗi, đó chỉ là những nơi giả mạo và chất lượng thấp. Giá bán căn cứ vào phả hệ và tiêu chuẩn ngoại hình.

            Chó có bố mẹ nhập khẩu có giá từ

            15 – 25 triệu/ con

            (Loại có giấy tờ nguồn gốc)

            Chó có bố mẹ sinh sản trong nước có giá từ

            10 – 15 triệu/ con

            (Bố mẹ nhập về sinh sản tại việt nam)

            Tuy nhiên, do đây là quốc khuyển Nhật Bản nên ở Việt Nam, tìm được chó Akita thuần chủng là rất hiếm. Đa phần là Akita Mỹ.

            Các bạn có thể liên hệ Hotline: 0981427586 để được xem chó Akita inu thuần chủng tại hà nội và tp.Hồ Chí Minh

            Mọi người cần cân nhắc và tìm hiểu thật kĩ trước khi mua. Chó cần có giấy tờ rõ ràng, có nguồn gốc của cả bố và mẹ, được chứng nhận FCl và VKA, xem rõ ảnh phối giống, sổ tiêm chủng.

            Nếu mua chó nhập khẩu, order người quen thì cần làm rõ giấy tờ vận chuyển, hải quan, thông tin người bán, kiểm dịch, lưu kho để tránh mua phải Akita  giả, hay kém chất lượng, yếu đuối.

            Có thể nhìn vào mắt chúng để thử độ tinh nhanh, tránh tình trạng bị tiêm thuốc.

            Đôi nét khái quát về Akita Inu

            Chú chó Akita Inu đang dần phổ biến trong cộng đồng chơi thú cưng ở Việt Nam. Ngay từ cái tên có thể thấy giống chó này có xuất thân từ Nhật Bản – xứ sở Hoa anh đào mộng mơ. Có lẽ vì vậy, Akita mang đầy đủ những phẩm chất đã trở thành biểu tượng cho văn hóa Nhật Bản – lòng trung thành.

            Nguồn gốc xuất thân và sự ra đời của cái tên Akita Inu

            Trong tiếng Nhật, “Inu” có nghĩa là con chó. Ai cũng gọi chúng là chó Akita Inu, nghe rất ngộ nghĩnh phải không nào? Còn Akita – cái tên đậm chất Nhật Bản bắt nguồn từ quê hương của chúng – đảo nhỏ Honshu vùng Akita.

            Bạn không thể ngờ rằng giống chó này nằm trong những loài lâu đời nhất thế giới, với niên đại hai thiên niên kỉ trước. Người ta bắt gặp hình ảnh giống chó này trên những vách đá xưa cũ. Tại Nhật Bản, Akita trở thành quốc khuyển với sự trung thành tuyệt đối qua bao dòng dõi của chúng.

            Thời xưa, có câu tục ngữ miêu tả hoàn hảo về loài chó này: “Nếu đã làm chó thì hãy làm chó của giới thượng lưu”. Đã có thời gian trong lịch sử, người Nhật xây dựng cho chúng phòng riêng tiện nghi và được chăm sóc, sinh hoạt như con người. Akita thông minh và quyền năng đến nỗi có khả năng suy nghĩ độc lập, có một ngôn ngữ độc lập và không chấp nhận những yêu cầu mà chúng cho là không hợp lí.

            Chúng sống tình cảm , mang một nét đặc trưng rất riêng dường như đã ngấm vào trong máu – lòng trung thành. Sự trung thành tuyệt đối dành cho chủ nhân, nó là phương tiện gắn kết tình người, là một mẫu mực cho những người bệnh cố gắng bình phục từng ngày. Hơi buồn cười phải không? Nhưng không ai có thể phủ nhận tình người trong loài chó Akita này, như một báu vật linh hồn xua tan khoảng cách giữa người và động vật vậy.

            Niên đại xưa, các hoàng gia, quý tộc coi chúng như một vệ sĩ đa năng, vì chúng còn có tính cách vô cùng mạnh mẽ, trở thành phương tiện đi săn bắt, hay là trợ thủ đặc lực cho các cuộc chiến. Nhưng sau năm 1600, Akita phổ biến khắp xứ sở Hoa anh đào và được công nhận là biểu tượng của sự uy quyền, thịnh vượng.

            Câu chuyện về chó Akita Inu và ngày Hachiko ở nhật

            Liệu các bạn có biết đến Hachiko trung thành đến đáng thương từ Nhật Bản không? Chú chó của giáo sư Ueno dạy tại trường Đại học Tokyo. Chú chó đáng thương không biết rằng người chủ mà nó luôn kính trọng đã ra đi sau một chuyến tàu không bao giờ có ngày trở lại. Vậy mà cứ 3h chiều, nó lại đến nhà ga Shibuya chờ chủ trở về. Nó đã lặp lại điều đó suốt 9 năm 9 tháng 15 ngày trong mòn mỏi cho đến khi chết đi. Chú chó trung thành ấy đã làm rúng động thế giới về lòng trung thành, lòng đồng cảm đến lạ kì giữa chó và con người, trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho tất cả.

            Và đương nhiên, Hachiko chính là thành viên của đại gia đình Akita. Nó chỉ là một phần tử của loài này, nhưng đã mang hầu hết phẩm chất tuyệt vời của loài, có riêng cho mình một ngày kỉ niệm trong năm.

            Liệu đọc đến đây, bạn có muốn dắt một chú chó Akita đáng yêu đi chơi trong ngày lễ Hachiko, ngày mà cộng đồng yêu thú cưng có dịp giao lưu, offline hay đơn giản chỉ là bày tỏ sự yêu thương với động vật?

            Phân loại giống chó Akita Inu

            Chủng Nhật Bản

            : Akita Nhật có thể có màu trắng, màu nâu đốm hoặc vàng. Chúng sống ở vùng đồi núi Nhật Bản.

            Mỹ

            : Người Mỹ cũng mang Akita trở về sau Đại chiến thế giới lần thứ hai. Qua nhiều lần lai tạo, giống Akita Mỹ to lớn, mạnh mẽ hơn, nhưng Akita thuần chủng mới giữ được phẩm chất đáng quý của nó.

            Đặc điểm của giống Akita Inu thuần chủng

            Loài chó Akita Inu này có một bộ lông mềm ấn tượng với độ dày 2 lớp, nên chúng được xếp vào nhóm Spitz (nhóm chó tuyết) với sức chịu đựng giá rét lẫn sức nặng rất cao. Sống được tại môi trường khắc nghiệt như thế, nên chúng mang bộ lông dài, trắng hoặc một phần trắng, rất đẹp.

            Loài này có ưu điểm là đa dạng màu lông, từ trắng đến đỏ, hay màu sesame hoặc vằn vện. Nhưng chớ có hiểu lầm loài này chỉ thích nghi được với khí hậu giá rét. Chúng có khả năng thích nghi cao với loại khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ở Việt Nam. Chưa kể đây là sẽ sự lựa chọn thú vị cho mọi người vào mùa đông với những chiếc ôm ấp áp mà bộ lông của nó mang lại.

            Nhìn tướng to cao vậy thôi nhưng chúng có một “khuôn mặt” vô cùng dễ thương và hiền lành. Đầu chó Akita to vừa phải, mặt tam giác giống chó sói nhưng trông hiền lành lắm, vì có đôi mắt đen láy đầy tình cảm mà. Trán phẳng, giữa trán có rãnh chia đôi mặt thành hai nửa bằng nhau.

            Mõm ngắn và nhỏ nhưng hàm cực kì khỏe, răng sắc nhọn. Có lẽ được di truyền từ tổ tiên biết săn bắt và có tính độc lập nên đây được coi là một thế mạnh của loài này. Môi màu đen và lưỡi có màu hồng. Đuôi luôn trong trạng thái cuộn tròn, vểnh lên cao. Tai hình lá nhỏ, tròn tròn, làm loài chó này trông không dữ dằn chút nào.

            Tập tính của loài chó Hoàng gia Nhật Bản

            Loài chó này mạnh mẽ, độc lập, ương ngạnh, có tính chiếm hữu nhưng đặc biệt trung thành với những người chủ của nó. Đối với chủ nhân, chúng rất ngoan, nghe lời, yêu thương và kính trọng. Chúng thông minh, thận trọng, nhưng hung hăng với người lạ do bản tính độc lập.

            Giống chó akita cần được dạy dỗ, huấn luyện, xã hội hóa ngay từ nhỏ nếu không muốn chúng cắn những người xa lạ. Cần có tính nhẫn nại với chúng, vì tổ tiên chúng đã bị phân chia lãnh thổ, nên bản tính này cần được rèn luyện lâu dài.

            Akita có bản tính chiếm hữu và khả năng tư duy độc lập. Chúng thông minh đến nỗi có thể không làm những yêu cầu chúng cho là vô lý. Chúng thường đi đầu đàn và đương nhiên là không ngại nguy hiểm. Nhìn hiền lành mà luôn bảo vệ âm thầm cho chủ nhân, như một người bạn có tình có nghĩa đối với chủ nhân. Chúng rất ít khi sủa, im lìm ngoan ngoãn, nhưng lại có một giọng kêu rất hay. Chúng rất thích sự yêu thương và chăm sóc chu đáo từ người chủ của mình.

            Mới đây nhất, Yume – giống chó Akita thuần chủng từ chính quê hương của quốc khuyển Nhật Bản, đã được chính phủ Nhật Bản tặng cho tổng thông Nga Putin. Liệu các bạn có muốn sở hữu cho mình một chú chó “giấc mơ” xinh đẹp như vậy?

            Cách chăm sóc chó Akita tốt nhất

            Điều khá buồn là tuổi thọ của loài chó Akita chỉ khoảng từ 10 – 15 năm. Nhưng con cái sẽ để lại cho đời sau một lứa khoảng từ 7 – 10 con. Chắc chắn là dù thời gian sống không dài và làm chủ nhân tốn rất nhiều tiền, nhưng sẽ là một kỉ niệm khó quên với chú chó quá đỗi trung thành như Akita.

            Akita thích đi dạo để thích nghi với khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam. Các bạn cần dành cho chúng một không gian thoải mái để luôn đẹp mã, đẹp luôn cả bộ mặt chủ nhân của nó.

            Các vấn đề về sức khỏe

            Akita thường bị mắc bệnh về mắt (viêm tuyến lệ), hay loạn sản xương hông. Vì vậy nếu bạn có ý định mua chó akita cần quan tâm đến việc phòng chống loại bệnh này.

            Phong trào nuôi giống chó Hoàng gia Akita ngày càng phổ biến

            Cộng đồng yêu thú cưng chắc chắn sẽ tiếp đón nồng nhiệt giống quốc khuyển đến từ xứ sở mặt trời mọc này. Đã có nhưng buổi offline giao lưu của hội những người yêu chó Akita Inu, hay các buổi lễ diễu hành, mừng ngày Hachiko đây…

            Vậy thì tại sao lại không cân nhắc việc mang về một chú chó Akita trung thành đáng mến này chứ. Quả thật đây là một sự lựa chọn không tồi mà, phải không?

            Thank you for watching!

            4.7

            /

            5

            (

            6

            bình chọn

            )

            Cảm nhận của khách hàng về Thú Cảnh Việt

            Bạn đang đọc nội dung bài viết Phục Vụ Sức Khỏe Cộng Đồng trên website Asahihotpot.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!