Đề Xuất 2/2023 # Nhà Văn Kim Lân: Dị Ứng Với Cái Giả, Cái Nhạt # Top 3 Like | Asahihotpot.com

Đề Xuất 2/2023 # Nhà Văn Kim Lân: Dị Ứng Với Cái Giả, Cái Nhạt # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhà Văn Kim Lân: Dị Ứng Với Cái Giả, Cái Nhạt mới nhất trên website Asahihotpot.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Được biết ông được nhà văn Nguyên Hồng đưa đi hoạt động văn hóa cứu quốc trước 1945, quê ông ở Phù Lưu, Tân Hồng (Bắc Ninh) trù phú có đủ ngành nghề, buôn bán, không chỉ thuần nông và có chế độ khuyến học đặc biệt nên trí thức ở đây thành đạt khá nhiều. Ông có em ruột là bà Uyên phụ trách thư viện, nơi chúng tôi thường ra đọc sách báo. Cảm giác gặp nhà văn Kim Lân thấy ông nói chậm rãi, thấu nghĩa thấu tình. Có lần ban trù bị thành lập Hội Văn nghệ Hà Bắc tổ chức cuộc gặp mặt thân mật với các nhà văn quê Kinh Bắc sống và công tác tại Hà Nội, tôi được đề nghị đọc bài thơ “Về Hải Phòng nhớ nhà văn Nguyên Hồng” viết khi một lần về chơi nhà anh bạn ở thành phố Cảng. Sau cuộc tiếp xúc, ông chủ động bắt tay tôi thật chặt và nói: Bài thơ này Kim làm sống lại cái thần của nhà văn. Tính Nguyên Hồng là vậy quyết liệt và có thái độ lắm: Đã ghét ghét cay đắng-đã yêu yêu hết lòng- trái tim ông run rẩy-nước mắt ông lưng tròng. Khi đọc tác phẩm của nhà văn Kim Lân ngẫm lại tôi thấy ông cũng có phẩm chất như Nguyên Hồng, nghĩa là ông rất dị ứng với cái nhạt cái giả trong văn chương. Ông viết ít đi có lẽ do ông nhận thức rất sâu sắc về nghiệp văn đầy rủi ro và bất trắc. Cái tài đến với nhà văn rất tự nhiên, mất đi cũng rất tự nhiên.

2. Cũng do sự viết ít đi ấy của nhà văn Kim Lân mà dư luận trong báo giới, văn giới tốn không ít giấy mực luận đàm về việc này. Có người bảo bút lực ông đã cạn, có người nói ông né tránh thực tại, có người bảo nhà văn Kim Lân cái gì cũng biết nhưng ông không viết để giữ gìn nhân cách cho mình!? Âu đó cũng là việc thiên hạ cứ luận bàn, mà ai cấm được họ nhưng bàn về một tài năng như nhà văn Kim Lân thì cũng là một sự lạ. Cũng sau một buổi hội thảo về văn xuôi do hội văn nghệ Hà Bắc tổ chức trước đây, tôi có đưa nhận định này ra để hỏi nhà văn. Cũng là để giải đáp thắc mắc không những của nhiều người mà cũng là của riêng tôi. Nhà văn Kim Lân cười mủm mỉm, nét vui ánh lên sau cặp kính lão: Tôi vẫn viết đấy chứ. Chỉ có điều không công bố trên báo chí thôi. Sáng tác thì có ít đi nhưng mình vẫn viết hồi ký “Những đêm mất ngủ”. Cứ nhớ đến đâu, viết đến đó để ghi lại cái thời mình sống. Theo mình chắc cũng có ích đấy. Và tôi cứ đợi hoài đợi mãi không thấy nhà văn Kim Lân công bố hồi ký này kể cả khi đưa in tuyển tập của ông!?

3. Vốn quê vùng Kinh Bắc văn hiến, nhà văn Kim Lân là người rất mê quan họ. Không hiểu chất quan họ đã “ngấm” vào ông tự khi nào mà bất cứ canh hát quan họ nào mà ông được mời hoặc chủ động đề xuất ông đều rất sốt sắng. Hội Nhà văn Việt Nam có cuộc hội thảo hoặc các nhà văn nước ngoài đến thăm muốn thưởng thức sinh hoạt văn hóa quan họ nhờ đến ông thì ông sẵn lòng “phone” cho Đoàn quan họ Bắc Ninh ra Hà Nội phục vụ ngay không một chút nề hà. Nhà văn Kim Lân thuộc khá nhiều các làn điệu quan họ, tôi đã được nghe ông hát cùng một “liền chị”. Giọng ông khàn đục nhưng ấm áp như vọng về từ một thưở nào đó xa xăm:

“Nay nhớ thương tôi phải đi tìm Mai người nhớ người lại sang chơi”

(Buôn bấc buôn dầu)

4. Ông có thể giải thích cho các bạn bè văn nghệ xa gần khi có dịp tiếp xúc với những lề lối quan họ, cách ăn mặc, ứng xử giao tiếp của người quan họ cặn kẽ tỉ mỉ như một người sành quan họ. Có lúc nhân cuộc vui, ông còn nói với tôi: “Kim có thơ viết về ông Nguyên Hồng rồi nhưng phải có thơ viết về quan họ nữa đấy. Đất quê mình sản sinh ra loại hình dân ca quan họ “độc nhất vô nhị” này, dây vào cũng thỏa một đời”. Có dịp nào sang Bắc Ninh chơi, nhà văn Kim Lân cũng đến thăm vợ chồng Khánh Hạ-một “liền chị” ông nhận làm con nuôi. Và tất nhiên không thể thiếu một canh hát quan họ với lối hát giao duyên cất lên hồn vía của dân ca đồng bằng Bắc bộ.

5. Khi chuyển về Hà Nội, thỉnh thoảng tôi có đến thăm nhà văn Kim Lân ở ngõ Hạ Hồi. Nhà ông nép vào một ngõ nhỏ trong cái “bành trướng” của nhà cao ốc xô bồ và nhộn nhạo. Khuôn viên ông ở dù chật mấy cũng đủ bồn hoa, chậu cảnh, bể cá làm sáng lên cái ánh nắng yếu ớt cuối ngày. Chậm rãi sau một hơi thuốc lào thật đã, ông kể tôi nghe những ngày ở ấp Sậu (Bắc Giang) với các nhà văn tài danh một thưở: Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Anh Thơ với biết bao ân nghĩa. Ông bảo những năm tháng ấy thấm vào trang viết như có thần nhập, không phải muốn mà có được đâu. Nhà văn Kim Lân tâm sự: Bạn bè khuất núi cả, nghĩ cũng buồn. Mà không khí chung quanh cứ ào ào thế, nó không hợp với tạng của mình. Thích nghĩ ngợi, ngại nơi ồn ã. Cũng là bệnh già đấy thôi. Đỗ Chu thỉnh thoảng có qua lại chỗ mình, hai ông con ngồi đàm đạo sự đời lẽ đời, chán thì đi dạo phố, ngồi quán nhìn thiên hạ đổ ra đường cho vui.

6. Bây giờ ông đã thanh thản về nơi vĩnh hằng. Không hiểu nhà văn Kim Lân đã thanh thản chưa khi nợ trần gian đối với người cầm bút cũng khó nguôi ngoai lắm. Tôi lại nhớ đến khuôn mặt nửa mờ nửa tỏ trong chiều muộn của ông. Không hiểu những nhân vật ông Cản Ngũ, Nhược Nhự… mà ông dựng lên đã từng thấm đẫm tính cách người xứ Bắc in dấu trong lòng bao thế hệ bạn đọc có phần nào an ủi ông trong nghiệp văn của mình. Riêng tôi nghiệm rằng trong đời nhà văn Kim Lân cũng từng đã có lúc tận hưởng cái giờ phút yên bình nhất khi hóa thân vào nhân vật do mình tạo ra: “Từ phút ấy, ông mới thấy mình thật sống, mình thật là mình, yên ổn thoải mái. Một nỗi vui phấn chấn tràn vào đầy ngập trong người. Cứ thế ông đứng lặng trong bóng chiều, chìm đắm trong những tiếng xao động từ mặt đất bay lên quấn quít, bao quanh lấy ông, tận hưởng cái giờ phút yên bình nhất của một ngày gác máy bay căng thẳng trên ngọn núi Côi Kê này” (Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê).

Nguyễn Thanh Kim

Truyện Chữ Tôi Đã Trả Giá Vì Cái Nhà Này Quá Nhiều Rồi Full Tác Giả Thiên Phong Nhất Hạc

Thông tin truyện Tôi Đã Trả Giá Vì Cái Nhà Này Quá Nhiều Rồi

Edit: Sư TửThể loại: Nguyên sang, mỹ thực, hiện đại, chủ thụ, ngọt sủng, 1×1, HE.

Văn án

Được kế thừa một căn nhà, Tô Tinh Thần còn chưa kịp vui mừng lại cảm giác có gì đó không đúng.

Sau một hồi nghiên cứu, thì ra bên trong là một không gian trùng lặp.

Nghĩa là Tô Tinh Thần có thể thấy được một không gian khác và những người khác thông qua không gian trùng lặp này

Người “ở chung” cùng cậu là một tinh anh trẻ tuổi anh tuấn đang phải xây dựng sự nghiệp cho riêng mình.

Sếp lớn này rất đáng thương, mỗi ngày đều ăn không ngon ngủ không yên, buổi tối còn gặp phải ác mộng.

Tô Tinh Thần xem như là “ở chung” với người ta, nhân tiện giúp đối phương quét tước nhà cửa và nấu cơm cho hắn ăn.

Tỷ như bữa sáng sẽ có xôi nấu sò điệp khô cùng thịt gà, chia cho đối phương một phần, bữa trưa ăn cà rốt hầm bò cùng nộm dưa chuột thái sợi, chia cho đối phương một phần, buổi tối ăn mướp đắng xào trứng… ừm, không thích ăn mướp đắng, thôi thì làm mộc nhĩ xào thịt!

Một tháng sau, Tô Tinh Thần vui mừng phát hiện tổng tài đã bị mình nuôi béo!

Nhưng mà, Tô Tinh Thần vốn tưởng rằng hai bên sẽ bình an vô sự mà làm bạn với nhau, kết quả không cẩn thận lại trở thành bạch nguyệt quang(1) trong mắt đối phương.

#Help me QAQ Bị người anh em thuộc top lắm tiền thổ lộ phải làm sao đây, cần trả lời gấp#

Lầu một: Người anh em mau tỉnh lại!

Lầu hai: Người anh em mau tỉnh lại!

Lầu ba: Người anh em mau tỉnh lại!!! Đủ gạch xây nhà rồi!

[Văn hư cấu kỳ ảo, chỉ là ảo tưởng của tác giả, nếu có gì giống với truyện xảy ra thì chỉ là trùng hợp.]

Cô độc thông minh khéo léo ôn nhu thụ x đẹp trai lắm tiền ngoài lạnh trong nóng cuồng làm việc công.

Truyện này còn có tên là #Chàng Tấm nhà phú hào, #Mỗi ngày đều vì tổng tài rầu thúi ruột, #Các người không hiểu áp lực việc sống tạm nuôi gia đình.

Từ khóa: Tô Tinh Thần, Du Phong Hành.

Chú thích: (1) Bạch nguyệt quang (白月光): ngôn ngữ mạng Trung Quốc, ý nói trong lòng vẫn luôn có một người mình yêu thương, ái mộ nhưng lại không ở bên cạnh, không thuộc về mình.

Truyện Ngắn Kim Lân: Con Chó Xấu Xí

13.4.2018-15:30

Con chó xấu xí

Nó là một con chó xấu xí! Xấu đến nỗi trong nhà chẳng ai buồn đặt cho nó một cái tên. Nó không được là tôtô, kiki, cũng chẳng là quýt, là cún, là gì gì cả. Gọi nó người ta chỉ việc “êu, êu…” như gọi bất cứ một con chó nào là nó đến. Mãi đến lúc nó chết, đại khi nhắc đến, vợ tôi mới gọi nó bằng cái tên nghe rất đỗi thương yêu: “Con Mực nhà ta… Ngày Tây nhảy dù Việt Bắc, con Mực nhà ta… Ngày con Hiền mới chập chững biết đi, con Mực nhà ta…”

Khốn nạn, cái “con Mực nhà ta” ấy, thực ra từ lúc mua, đến lúc chết, nó phải chịu sự ghét bỏ, hắt hủi của mọi người trong nhà tôi y như đứa trẻ, con một người làm lẽ thứ năm, thứ bảy trong một gia đình giàu có, đông con mà bố mẹ chết rồi phải ở với anh, chị con bà cả vậy.

Tôi bực mình lắm. Cứ thoáng trông thấy nó, tôi đã lộn ruột lên rồi. “Chó gầy khổ mắt người nuôi!” Ừ thì trong lúc kháng chiến này cũng chẳng nên kén chọn, cầu kỳ đến những giống chó đồ, chó kiểu làm gì, nhưng đã nuôi cái của giống má trong nhà, ít ra cũng phải sạch mắt thì mới coi được. Đằng này, con chó nhà tôi mua, nom nó thảm hại quá.

Dưới ánh nắng mùa hanh rát ràn rạt, lớp da răn rúm bọc ngoài cái thân hình gầy gùa, lủng củng những xương của nó, lúc lúc lại thấy rùng lên. Nó khẽ rên ư ử một cách sung sướng và thê thảm…

Tôi bảo nhà tôi đem mà vứt mẹ nó đi, không có cho ai thì cho. Nhà tôi chỉ cười:

– Cho là thế nào? Để tăng gia đấy.

Nhà tôi cũng biết chót mua phải con chó xấu quá, nên mỗi bạn tôi kỳ kèo chỉ cười, nói quấy quá cho xong lần. Còn con chó thì hình như nó cũng biết thân phận nó, biết tôi ghét nó, mỗi lần thấy bóng tôi từ xa, cu cậu đã lui lủi lỉnh đi chỗ khác. Nó cúi gằm mặt xuống, mắt lấm lét nhìn trộm, cái đuôi thun lủn một mẩu thịt cháy thì khẽ ngoáy ngoáy mừng nịnh. Tôi càng ghét.

Cho mãi đến hôm có Đặng ở đoàn kịch của tỉnh đi qua tạt vào thăm, con chó ấy mới được yên thân với số phận Đặng quyết định cho nó và, từ đấy tôi cũng thôi không kỳ kèo nhà tôi nữa.

Đặng là một tay bợm rượu. Anh em bạn chơi vẫn gọi anh ta là Đặng cồn. Người anh ta lúc nào nom cũng ủ dột. Mặt trắng bự, mắt ướt nhoèn, lưng gù, cặp kính trắng thõng xuống đến cánh mũi. Cái miệng chảy thễu ra lúc nào cũng thấy đánh tóp ta, tóp tép như cóc thèm muỗi. Thường khi cả ngày chẳng thấy anh ta nói một câu, ấy hễ mà ngồi vào mâm rượu là cả người anh ta bỗng tỉnh táo, linh hoạt và cái khuôn mặt bệch bạc, rụng hết lông mày của anh phút chốc rạng rỡ hẳn lên. Lúc ấy sao mà anh ta nói chuyện có duyên đến thế! Anh gọi chó là “hươu thềm”, là “nàng thơ của cụ Lỗ Trí Thâm”. Chó vàng anh gọi là “ka ki”, chó đen anh gọi là “nhung Thượng Hải”. Những con chó thui nhoáng mỡ treo lủng lắng trước quán hàng anh gọi là “leo coóc” v.v…

– A ha, nhà này vừa sắm được của quý!

Nhà tôi ngồi trong bếp nhìn ra chưa hiểu nhà mình sắm được cái của quý gì, Đặng đã ngồi sà xuống đất, nheo mắt khẽ gọi:

– U, chậc, chậc chậc!…

Tiếng gọi nghe thật dịu dàng, âu yếm. Con chó đứng lại lưỡng lự, nghi ngờ. Từ ngày về nhà này có bao giờ nó được nghe cái tiếng gọi thương yêu đến như thế.

– U, chậc chậc chậc!…

Con chó sướng quá, ngoáy tít cái đuôi trụi, dặt dẹo trên bốn cái khoeo gày quay trở lại. Đến gần Đặng, nó nằm rạp xuống, thè lưỡi ra liếm liếm, và khẽ rít lên ư ử.

Đặng cúi xuống nghiêng nghé cặp kính nhìn con chó hồi lâu, anh gật gù, tấm tắc khen:

– Hay! Hay lắm! Sáng kiến của bà Hiền phải không?

Nhà tôi thấy Đặng chú ý đến con chó mình mua một cách đặc biệt như vậy cũng hởi lòng hởi dạ. Nhà tôi cười bảo anh ta:

– Vâng tôi mua đấy anh ạ. Thế mà nhà tôi cứ bảo đem cho…

– Cho là thế nào! – Đặng trợn mắt lên cướp lời – Chị cứ để đấy cho tôi. Ba tháng nữa tôi giở lại, được vô khối là việc.

Đặng nháy tôi một cái, làm dáng điệu đang thủ một cái chầy sau lưng, miệng ngọt ngào gọi “êu, chậc…” rồi thình lình anh trợn mắt, mím môi bổ xuống không khí một cái thật mạnh:

– A lê hấp! Cho một chầy, chị biết chửa?

Đặng cười ré lên một hồi ròn khanh khách. Con chó dưới chân Đặng cồn giật thót người, cúp đuôi chạy vút đi. Đặng càng cười đắc ý.

Đi với Đặng cồn còn có Nhược Dự. Bận nào Đặng đến nhà tôi, Nhược Dự cũng đi theo. Anh ta là người khó hiểu, khôn ngoan và kín đáo. Ngồi nói chuyện với anh ta khó mà biết được ý thật của anh ta như thế nào. Bao giờ anh ta cũng nói theo ý của người khác và nếu gặp một ý nào đối chọi lại lập tức anh ta rụt lại ngay. Lúc nào anh ta cũng khoác bên ngoài cái vẻ lờ mờ, rụt rè như một người lạc lõng, hiểu rất ít về thời cục.

Hồi mới chạy lên trên này, Nhược Dự còn để cái đầu trọc. Cái đầu sinh ra từ ngày còn Nhật chưa có dịp chuyển sang đầu thường, nhưng chỉ mấy tháng sau tóc anh đã mọc rất dài, không những thế anh còn để cả bộ râu dài lượt mượt như một ông cụ nữa. Bộ râu lạc lõng trên cái mặt non choẹt, trắng nhẫy nom như râu đóng kịch. Có bộ râu ấy, anh có thể rền rĩ, than thở với mấy ông xã đội trưởng rằng mình già yếu không thể đi canh gác, hay đi phá đường được; hoặc từ chối một vài việc gì đấy mà ủy ban muốn nhờ anh ta giúp đỡ. Trước ngày, Nhược Dự cũng có viết văn. Anh ta viết những truyện “ái tình” lâm lá, sướt mướt với một thứ văn chương uốn éo, quen thuộc, rẻ tiền. Anh ta làm văn chẳng khác gì người thợ kim hoàn quen tay làm đồ Mỹ ký. Vì thế, từ ngày khởi nghĩa anh không viết gì được nữa, mà anh ta cũng chẳng nghĩ gì đến chuyện tiếp tục viết văn.

Tuy vậy, cả nhà anh ta, từ bà cả già mõ bán bún riêu ngoài quán đình Bùi, đến cô vợ hai còn trẻ măng chuyên việc bếp núc, hầu hạ chồng và con chồng ở nhà đều như còn luẩn quẩn, mê luyến với cái không khí của một thời “oanh liệt” của ông chồng trước kia… Trước mặt người lạ, họ đối đãi, nói năng với nhau hoa mỹ, kiểu cách như người trong truyện cả. Nghĩa là nghe nó ngớ ngẩn, giả dối rất chướng tai!

Người như vậy, kháng chiến cũng không bỏ. Biết Nhược Dự trước kia có viết văn, cơ quan tôi mấy bận cử người về đón anh đi công tác. Bận nào Nhược Dự cũng có bộ mặt rầu rĩ, băn khoăn vì nỗi hoàn cảnh anh ta bó buộc, vì anh ta nặng gánh gia đình, vì anh ta bệnh tật, đau yếu luôn. Phải loanh quanh ở nhà như vậy anh ta lấy làm xấu hổ và khổ tâm lắm lắm.

Người địa phương vì thế ghét vợ chồng anh ta thậm tệ. Giữa cuộc kháng chiến bùng nổ, không ai có thể ưa một anh đàn ông sức dài vai rộng mà chỉ thấy cập kè với hai bà vợ và nhởn nhơ với một ngôi hàng. Người ta làm vợ chồng anh khó chịu, tức tối ngấm ngầm, có khi phải tủi hổ.

Mỗi lần Đặng có việc đi qua tạt vào chơi, vợ chồng Nhược Dự rất mừng. Trong số bè bạn ngày trước chỉ có Đá Đặng là chịu chuyện được vợ chồng nhà này. Nhược Dự vớ được Đặng như người chết đuối vớ được cọc. Mỗi lần gặp nhau lại rượu. Trên mâm rượu “tha hương ngộ cố”… ít ra anh ta cũng nói được đại ba câu cảm khái vụn, ngâm ngợi một vài bài thơ than thở cho thân, cho thì. Có lần rượu vào anh ta rũ xuống mà khóc.

Hôm Nhược Dự theo Đặng đến nhà tôi chơi, thấy Đặng có ý kiến về con chó ghẻ như vậy, anh ta liền “bốc” ngay. Anh ta ca tụng các món thịt cầy, ca tụng cái đạo của những ai biết thưởng thức thịt cầy, cuối cùng anh ta hẹn ba tháng nữa, Đặng trở lại sẽ hội ẩm một chầu thịt cầy có thể gọi là “phanh dương, tể ngựu…”

– Cô hai nhà moa sẽ đội sang một cái quả sơn đầy bím với hai cây rượu đặt thật trứ danh. Các toa sẽ thưởng thức của bà cả nhà moa món giò chó, món thịt chó hầm cách thủy, món thịt chó hấp… à, các toa đã được nghe bà cả nhà moa ngâm “Hồ trường” chưa? Này “en” mà ngà ngà mấy chén vào, ngâm “Hồ trường” thì lạ lùng hết sức… Buồn mà thấm vô cùng…

– À, mày… Thằng Hiền! Thế nào, to chưa? To rồi chứ còn gì?

Tôi đứng ngây ra không hiểu Đặng hỏi tôi cái gì to chửa. Anh ta phì cười, phát đen đét vào vai tôi:

– Bố khỉ, bố đần!… Con chó ốm nhà mày ấy, to chửa? Khử được rồi chứ còn gì?

Tôi gật đầu cười “à à…”. Ra cái tay bợm rượu này không lúc nào nó quên được con chó!

– Tao đã bảo vợ chồng nhà Nhược Dự rồi. Hai chai bố trong suốt như nước suối…

Anh nháy tôi một cái, ngấp ngó cặp kính thõng xuống tận mũi, nhìn tôi:

– Kể ra vợ chồng chúng nó cũng có khí… nhạt đấy. Mặc mẹ, được việc cho mình thì thôi, hả?

Anh ta cười khá lên một dịp ròn tan.

– Chủ nhật hả! Chủ nhật này mày về, ta làm một chầu văn hóa cao!

Đặng bắt tay tôi, hỉ hả chống gậy lên đường.

Nhưng sự đời có mấy khi chiều những ý muốn đã định trước. Đặng vừa đi hôm trước thì hôm sau có tin giặc nhảy dù Thái Nguyên, rồi có tin giặc từ Bắc Giang đánh lên, Bắc Ninh đánh sang. Lối Kim Tràng, cầu Xim, Cầu Đồng; bên núi Hia, núi Đót; dưới chợ Lữ, bến Lủi, bến Phà, đâu đâu cũng có giặc cả rồi. Người các mạn dưới đánh trâu, bò, bồng bế, gồng gánh chạy giặc dạt lên đen kín cả ngoài cánh đồng.

Cơ quan tôi đã chuẩn bị từ trước, vừa có tin giặc nhảy dù Thái Nguyên, lập tức chuyển sâu thêm nữa vào rừng, sang một địa điểm tỉnh khác. Tôi được anh em đồng ý cho về thu xếp gia đình rồi sẽ theo cơ quan sau. Anh em ai cũng biết cảnh nhà tôi neo bấn, chỉ có một mình vợ tôi với đứa con gái nhỏ, lại ở vào giữa vùng giặc đang đánh lên, một mình vợ tôi sẽ không biết xoay xỏa như thế nào trong cái tình thế khó khăn, bối rối ấy được. Tôi về chuyến ấy, có ý định sẽ đưa gia đình theo cơ quan, ở một trại ấp hẻo lánh nào đấy cách cơ quan tôi chừng độ dăm bảy cây số cho tiện sự đi về thăm nom.

Con chó của tôi như thế không thể “làm một chầu văn hóa cao” như Đặng hẹn nữa, và cái số phận của nó cũng vì cuộc chạy giặc ấy mà thay đổi.

Đêm ấy tôi từ cơ quan về đến nhà thì vợ con tôi đã chạy cả rồi. Hàng ấp cũng không còn nhà nào ở lại. Xóm ngõ vắng tanh, súng giặc nghe rền từng chập. Nghe rõ tiếng liên thanh ùng ục và, từng phát súng trường lẻ tẻ rít vào không khí.

Tôi biết vợ con tôi đã chạy vào đồng Kĩnh. Từ mấy tháng nay, mỗi bận tôi về nhà, hay viết thư về cho nhà, tôi đều căn dặn vợ tôi lúc nào cũng phải hết sức gọn gàng, phòng giặc đánh lên, hoặc nhảy dù là có thể bế con chạy ngay được. Trường hợp tôi chưa về kịp, mẹ con hãy chạy vào nhà cụ bếp Móm trong đồng Kĩnh làm chỗ liên lạc, tôi sẽ về đón.

Ở trong ấy gần rừng, hẻo lánh dễ chạy, mà cụ bếp Móm lại là chỗ đi lại quen biết từ trước, nhỡ xảy gặp khó khăn có thể nhờ cậy được.

Tôi đảo về qua nhà, đi vẩn vơ ngoài cái sân bỏ vắng mấy lượt, rồi cắm đầu đi thẳng vào đồng Kĩnh. Bấy giờ đã khuya lắm. Đêm tối vẫn rùng rùng bóng người, bóng trâu bò chạy giặc. Người ở vùng dưới chạy lên đây, người ở đây lại chạy mãi vào những mạn ven rừng. Trong các búi cây, bờ ruộng, khe suối, rệ đồi, trong các lều quán ven đường, chỗ nào cũng thấy nhan nhản những người. Chỗ nào cũng nghe tiếng trẻ khóc, tiếng gọi thưa, tiếng than thở, chửi rủa. Ruột gan tôi càng rối lên.

Con chó ấy, từ trước vẫn sợ tôi, thoáng thấy bóng tôi là tránh cho thật xa, đêm nay hình như nó cũng thấy có những cái gì khác hẳn, cái gì như là tan nát, thấy tôi về, nó mừng quá, nó quên cả cái thói quen sợ tôi của nó, nó chạy bổ ra với tôi, mừng rối rít. Nó quấn lấy tôi, dều dễu theo tôi, nằm phục dưới chân tôi mà hít hít, ngửi ngửi rên lên những tiếng ư ử sung sướng, thân thiết. Thì ra những lúc gian nguy, chẳng những con người, đến con vật cũng quên hết những ghét bỏ, hiềm khích cũ mà gần gũi, thương yêu nhau, thấy cần phải nương tựa vào nhau mà sống. Tôi bỗng đâm ra lưỡng lự không biết đối xử với con chó này như thế nào, bỏ nó lại, hay là mang nó đi?…

Người chạy giặc vẫn kéo lên mỗi lúc một đông. Có tốp tiếp tục đi mãi vào trong mạn rừng, có tốp nghỉ lại ở đây. Cái túp nhà ông cụ bếp Móm chặt nèn những người. Trong số những người mới đến tôi thấy có cả ba vợ chồng Nhược Dự, tôi mừng quá, chạy ra hỏi tin giặc. Nhược Dự với cô vợ hai không nói gì. Đêm nay anh ta thay đổi hẳn, gặp tôi anh ta cũng chẳng thấy nhích lên được một nét vui nào. Anh ta chỉ lầm lầm cái mặt và thở dài. Sự lo lắng, chán nản, oán trách hiện lên đầy mặt. Anh ta đối với tôi lúc này lại như có vẻ hờ hững, khó chịu. Trái lại chị vợ cả lại nói rất nhiều, cặp môi ăn trầu thuốc thâm đen của chị cuốn lên. Chị nói bằng mắt, bằng tay, bằng nét mặt, bằng tất cả cái sắc sảo của một tay buôn lọc lõi. Có lúc chị nói liên liến một hồi như cái máy khâu đạp cố rồi đột nhiên ngừng lại, đưa mắt dò la đánh giá người nghe, có lúc chị nói khoan thai thẽ thọt như thể giọng mẹ chồng ngồi kể xấu nàng dâu. Có lúc chị giả giọng ba bốn người trò chuyện đối đáp với nhau. Chị vừa nói vừa cười ròn khanh khách. Kể chuyện giặc đánh lên, giặc đốt làng mà giọng chị nghe văn hoa, hồ hởi như chuyện vừa kiếm được món hời.

– Tại anh Nhược Dự đấy, kêu là chiều tối rồi, nó không lên nữa, để sáng sớm mai hẵng chạy còn kịp chán. Thế mà ai ngờ nó đi đêm anh ạ. Nó đốt cái quán ở đình Bùi của tôi rồi. Tiếc quá.

– Nó lên đình Bùi rồi chị?

Chị bổ cái mặt chị vào mặt tôi:

– Chả có hai lần đình Bùi! Nó đến Nhã Nam rồi anh ạ. Thật cả là một sự điêu linh. Cũng chỉ tại mấy bố du kích nhà ta thôi anh ạ. Súng ống chẳng có, có mấy khẩu súng kíp còm cũng đậm đọp bắn nó. Nó mấy cáu, nó mấy đốt cho. Nó đốt đình Bùi, đốt Cao Thượng, bây giờ nó đang đốt Nhã Nam đấy. Vợ chồng tôi vừa chạy giặc, vừa ngoảnh lại nhìn ngọn lửa quân xâm lăng tàn bạo nó đốt nhà, đốt cửa của đồng bào mà trái tim của vợ chồng tôi tưởng chừng như sắp sửa tan vỡ ra từng mảnh… hé, hé, hé…

– Lâu nay toa có sáng tác được cái gì mới không?

Hình như thấy câu nói của mình lạc lõng không hợp với tình thế lúc này, anh ta hỏi thêm:

– Lâu nay toa có gặp Đặng không? Toa có biết lúy chạy đâu không?

– Này mình ạ… – Tôi nhìn nhà tôi đắn đo một lúc. – Cái con chó nhà ta ấy, tôi thấy, tôi nghĩ không thể đem nó đi được đâu.

-Sao, mình bảo gì cơ?

Nhà tôi ngồi nắm nắm cơm bằng chiếc khăn tay trên mặt cái sàng, ngẩng lên nhìn tôi sửng sốt. Tôi ngập ngừng nói thêm:

– Cái con chó nhà ta ấy, tôi thấy không thể đem nó đi theo mình đêm nay được đâu.

– Sao lại không đem nó đi được! Mình nói tôi chẳng hiểu ra sao cả.

Nhà tôi cau mặt lại một cách khó chịu:

– Nuôi nó ngần ấy ngày giời, gặp lúc như thế này lại định bỏ nó! Mình nghĩ thế nào, lại tính thế? Chả thà là thịt nó đi như anh Đặng nói lại đi một nhẽ.

Tôi nín lặng chẳng biết nói với nhà tôi như thế nào, trong lòng thật cũng thấy hổ thẹn với những ý nghĩ của mình. Ngoài kia, ba bốn đám lửa đốt làng, đốt phố rừng rực trong đêm tối. Những đám lửa nom gần lắm rồi.

Tôi càng nôn nao, bối rối, tôi nói với nhà tôi như dỗ dành, như phân trần:

– Có phải rằng tôi muốn để lại nó đâu, nhưng mà giặc thì nó đánh đến nơi rồi, xung quanh mình chỗ nào đành nhẽ là phải gửi nó lại… Sau này giặc yên, về ta lại đem nó về…

Nhà tôi cắm cúi nắm nắm cơm không trả lời. Nắm xong, nhà tôi lẳng lặng thu xếp, bỏ vào quang gánh, rồi đi vào trong nhà. Nét mặt nhà tôi lúc ấy nom lầm lì và buồn bã vô cùng. Lát sau nhà tôi và cụ bếp Móm từ trong nhà đi ra. Ông lão bước nhanh về phía tôi, xăm xắm:

– Thôi được, hai bác không đem được nó đi thì để lại, tôi trông nom cho, anh em mình, lo gì. À hà, con chó này đang ngon thịt đây…

“Quái thật, làm sao ai nhìn đến con chó cũng nghĩ đến chuyện thịt?” Tôi thấy hơi khó chịu. Ông lão chắp hai tay sau đít, cười gật gật ngắm nghía con chó. Chừng như con chó ấy nó cũng thấy có điều gì khác ý, nó vội rúc vào chân tôi liếm liếm, ngửi ngửi, hai chân nó đập đập vào chân tôi, ngoáy đuôi mừng mừng.

Nhà tôi chẳng nói chẳng rằng, một tay cầm cái xích, một tay nắm gáy lôi tuột nó ra, xích nghiến lại. Con chó giật mình, hoảng quá nó chồm lên và càng cố lăn vào chân tôi, trốn tránh, giẫy giụa, kêu ăng ẳng.

Ông cụ bếp vui tính thấy thế cứ nhe bộ lợi ra cười kha khá, còn nhà tôi thì hai mắt càu cạu, môi mím chặt lôi xềnh xệch con chó ra một cách phũ phàng. Nhà tôi buộc nó vào gốc mít gần đấy. Con chó lăn lộn trong cái xích căng thẳng, cái xích vít cổ nó lại, nó cố nhoai về phía tôi mà không được, nó tru lên từng hồi. Trong ánh lửa cháy bập bùng ở bếp hắt ra, tôi thấy mắt nó có hai đốm lửa nhỏ tí. Hai đốm lửa ấy nhìn vào tôi oán trách, cầu khẩn lúc lại thấy như thù hằn, giận dữ. Tôi cúi mặt xuống, không dám nhìn vào con chó ấy nữa. Khốn nạn thân nó, bây giờ chắc nó biết chủ nó bỏ nó. “Thôi, để chuyến này chạy giặc về, tao sẽ nuôi mày, tao không dám phụ mày, tao không thịt mày nữa đâu”…

Nhà tôi đã thu xếp quang gánh, đồ đạc xong. Đứa con gái nhỏ của chúng tôi ngồi gọn bên một thúng, xung quanh nó quây chăn, tã cho ấm, phía trên che một cái chiếu cuộn khum khum như cái mái lều. Một bên là nồi niêu bát đĩa, tương muối và các thức cần dùng khác. Bây giờ nhà tôi mới cầm một bọc gạo vừa mới san ở trong bị ra, đi đến trước mặt cụ bếp Móm:

– Thôi, chúng cháu đi đây…

Nước mắt nhà tôi bỗng giàn ra, nhà tôi đứng im trước mặt cụ bếp nghẹn ngào không nói được. Tiếng con chó vẫn kêu ăng ẳng và, tiếng cái xích căng ra xoắn vào thân cây mít lục cục.

– Cháu… gửi lại cụ một ít gạo đây, nhờ cụ trông nom nó giúp cháu… Sau này thiếu đủ như thế nào, về cháu sẽ xin thưa lại với cụ…

– Được! Được! Chỗ tôi với hai bác ấy mà.

Ông cụ bếp cười, xua xua tay, gạt đi.

Nhà tôi khẽ chào ông cụ, bước vội về phía quang gánh. Tôi cũng đứng dậy khoác ba lô, ôm bọc chăn màn chào cụ bếp, bước theo nhà tôi. Từng chặp súng máy nổ rền ngoài đêm tối. Và, đám lửa đốt làng, đốt phố ở mé Cao Thượng càng khuya nom càng rừng rực ngất trời.

Bao giờ cho giặc rút? Bao giờ cho vợ con tôi được sống yên ổn dưới một mái nhà? Tôi thèm một cái mái nhà…

“Ắng!… Ắng! Ắng!…” Tiếng con chó lồng lộn, cuống quít đằng sau bước chân tôi. Nó như gọi tôi, nó như kêu cứu, như than khóc, oán trách. Tôi lẳng lặng bước qua chỗ vợ chồng Nhược Dự đang đứng. Rõ ràng anh ta biết tôi đi nhưng lại lờ đi như không nhìn thấy.

Ra khỏi ngõ tôi thoảng nghe tiếng chị vợ cả nói với chồng:

– Vợ chồng nhà ấy họ đi đấy à? Này, họ bỏ lại con chó cậu ạ.

Và tiếng anh chồng dấm dẳn:

– Đến người cũng chả chắc giữ được nữa là con chó!…

Tôi xóc lại cái quai ba lô, bước theo hút cái bóng nhà tôi đang đi xăm xắm xuống đồi.

Đêm “thu đông” lạnh buốt. Rải rắc trong những búi sim, mua rậm, bóng những người chạy giặc nằm ngả ngốn, chụm đầu vào nhau nói chuyện rì rầm. Trâu bò hàng đàn sồn sột gậm cỏ thầm trong tối.

Tiếng con chó tự trong nhà cụ bếp Móm đưa ra vẫn nghe rõ mồn một “Ắng!… Ắng! Ắng!…”. Tiếng con chó da diết, nhọn hoắt xói vào ruột gan tôi. “Thôi để chuyến này về tao nuôi. Tao sẽ nuôi mày, tao không bỏ mày đâu…”.

Tôi nhủ thầm với tôi một lần nữa như vậy.

***

Hai tháng sau tôi về. Giặc rút lâu rồi. Cuộc tấn công rầm rộ của chúng nó ngày ấy ai ngờ lại là cuộc đánh tháo cho đám quân mắc nghẽn ở giữa rừng già trong thị xã Bắc Cạn. Chúng nó tràn lên đâu trong vòng chỉ có nửa tháng thì rút hết. Vợ con tôi cũng đã dọn về nhà cả rồi.

Dọc đường từ cơ quan về thăm gia đình hôm ấy tôi rất vui. Bao nhiêu nỗi vui dồn đến chen chúc rộn ràng trong ý nghĩ. Mấy tháng ở cơ quan, ngày lại ngày trông ra chỉ thấy cây già và núi thẳm bưng bít xung quanh, bây giờ về xuôi, tôi lại được thấy trời rộng, sông dài và những cánh đồng bát ngát. Tôi lại sắp được gặp vợ, gặp con tôi.

Mỗi bước chân, bao nhiêu vui sướng. Nhưng mà tôi đã quên mất con chó khốn khổ ấy. Nhà tôi thấy tôi về, mừng quá cũng không kịp nhắc đến nó. Sau một trận giặc đánh lên, cái sống cái chết kề bên bây giờ mới được đoàn tụ, ai mà còn kịp nghĩ đến một con chó xấu xí!

Một hôm tôi chợt thấy cặp kính trắng lấp loáng của Đặng cồn từ đầu ngõ đi vào, bấy giờ tôi mới giật mình, sực nhớ đến con chó. Tôi quay lại hỏi nhà tôi:

– À, mình này! Con chó nhà ta đâu nhỉ? Mình chưa vào trong cụ bếp dắt nó về à?

Nhà tôi đứng ngẩn ra một lúc. Có lẽ nhà tôi cũng không ngờ rằng tôi đã về bằng ấy ngày giời rồi vẫn không nói chuyện con chó ấy với tôi.

– Nó chết rồi!… – Nhà tôi nói khe khẽ.

– Chết rồi? Làm sao mà chết được?…

Tôi trố mắt lên hỏi lại. Nhà tôi cúi mặt xuống, thở dài:

– Nó chết thương lắm cơ mình ạ. Không phải nó chết trong cụ bếp Móm đâu. Nó về nhà ta nó chết đấy.

Nhà tôi ngừng lại, cắn môi chớp chớp hai mắt nhìn ra ngoài sân. Lát sau, nhà tôi đứng dậy mời Đặng vào trong nhà, rót nước mời anh rồi mới tiếp tục câu chuyện.

Chao ôi! Con chó xấu xí ấy, của tôi! Con chó từ lúc mua, đến lúc chết không được một lần vuốt ve! Nó đã chết một cách thảm thương và trung hậu quá. Từ hôm vợ chồng tôi gửi lại nó cho ông cụ bếp Móm, con chó không chịu ăn uống gì. Nó chỉ kêu. Nó kêu suốt ngày, suốt đêm. Một đêm, ông cụ bếp không thấy con chó kêu nữa, thì ra nó đã xổng xích đi đâu mất rồi.

Hôm nghe tin giặc rút, ở trong khe đồn Khau Vắt dọn về, nhà tôi tạt vào nhà cụ bếp Móm định đem con chó về nhân thể, nhưng vào đến nơi thì nó không còn đấy nữa. Lúc ấy nhà tôi cũng yên trí là con chó mất rồi. Chắc chắn nó sẽ lạc vào một trại ấp nào đấy và người ta làm thịt nó.

Nhưng khi nhà tôi về đến nhà. Bà con xóm giềng vừa chạy sang láo quáo thăm hỏi thì, ở ngoài vườn sau, có mấy tiếng chó hú lên thảm thương và ghê rợn.

Từ sau bụi dứa rậm rạp, con chó khốn khổ ấy lảo đảo đi ra. Người nó run lên bần bật. Nó gầy quá, chỉ còn một dúm xương da xộc xệch, rụng hết lông. Nó đói quá, đi không vững nữa. Nó đi ngã dụi bên này, dụi bên kia. Rồi nó không còn đủ sức mà đi nữa. Nó nằm bệt trên đất, rúm người lại, lết lết lê đần về phía nhà tôi.

Lúc ấy cả người nó chỉ còn có cái đuôi là còn ngó ngoáy được để mừng chủ và, cái lưỡi liếm liếm vào tay chủ. Khốn nạn con chó! Được gặp chủ nó mừng quá. Từ trong hai con mắt đờ đẫn của nó mấy giọt nước chảy ra. Lát sau thì nó không liếm được nữa, cái đuôi ngoáy yếu dần, yếu dần rồi im hẳn. Nó chết.

Tôi tối sầm mặt lại, vừa thương xót con chó, vừa thấy xấu hổ. Quả thật tôi chỉ là một thằng tồi. Một thằng ích kỷ. Tôi chỉ nghĩ đến mình và vợ con mình. Đến như con chó mình nuôi, mình đối xử với nó có được như cái tình nghĩa của nó đối xử với mình đâu?

Đặng vẫn ngồi im. Từ lúc đến, đến lúc nghe xong câu chuyện, Đặng vẫn ngồi im. Hình như câu chuyện con chó ấy của nhà tôi kể làm anh có điều gì áy náy, nghĩ ngợi.

– Này, lâu nay cậu có được tin gì về vợ chồng Nhược Dự không?

Lúc lâu sau Đặng chợt ngẩng lên nhìn tôi hỏi. Cặp môi mỏng dính của anh kéo xệch một bên lên thành một nụ cười. Anh tự trả lời câu anh vừa hỏi:

– Nó dinh tê rồi! Nghe nói vào trong ấy nó viết báo, viết truyện chửi kháng chiến, chửi bọn mình đểu lắm.

Cả hai chúng tôi cùng im lặng. Cái im lặng trang nghiêm ghẻ lạnh, thật khó chịu.

Chó Bị Dị Ứng Phải Làm Sao ?

Chó bị dị ứng thường xảy ra nhanh, bất ngờ với nhiều dấu hiệu khác thường như: ngứa, da mẩn đỏ, thở gấp, sốt, tiêu chảy và nhiều rối loạn toàn thân khác. Dị ứng ở hó cũng có thể kéo dài mãn tính do chó bị nấm, ghẻ, ve rận lâu ngày.

Dị ứng là phản ứng quá mẫn cảm của hệ thống miễn dịch cơ thể đáp ứng lại các tác nhân “lạ” gây dị ứng. Cơ thể tăng tiết Histamine chống lại chất “lạ”.

Dị ứng ở chó thuộc chứng bệnh khó chẩn đoán và điều trị bởi có nhiều nguyên nhân:

Từ thức ăn thông qua đường tiêu hóa: ăn phải các thức ăn lạ, thức ăn chua, đã lên men hoặc bị nấm, mốc…

Từ môi trường thông qua hô hấp do hít phải không khí có chất lạ như: phấn hoa, bụi bẩn, hóa chất, thuốc sâu, cây cỏ, lông sâu bọ, hoặc nước hoa, hay mỹ phẩm của người.

Hoặc tiếp xúc qua da thư thuốc tiêm, thuốc bôi. Hay côn trùng chích đốt (ong, muỗi), ký sinh trùng (ve rận, bọ chét, ghẻ nấm…).

Dị ứng ở chó có nhiều biểu hiện khác nhau, khá phức tạp:

Ngứa ngáy, da mẩn đỏ, có thể có mùi hôi, rớm máu. Xước xát do các vết gãi, cắn xé, nhai, chà xát lên chân, cẳng chân và vùng bị ngứa.

Thở gấp, khó thở, thở khò khè, ho, hắt hơi, sụt sịt, chảy nước mắt, nước mũi.

Tai tiết nhiều sáp, ửng đỏ, có mùi hôi.

Mặt: sống mũi, cằm và khu vực xung quanh mắt ửng đỏ và rụng lông.

Chân bị viêm, ửng đỏ, có mùi, sẫm màu ở những nơi chó hay liếm.

Sưng tịt vùng mặt và các ngón chân.

Sốt, nóng, đi ngoài, tiêu chảy cấp, nôn mửa.

Chân tay run rẩy, cuống quýt hoặc chạy nhảy kêu rít vô thức.

Bỏ ăn, không uống nước, nặng thì hôn mê, trụy tim mạch, tử vong.

Chần đoán và điều trị dị ứng ở chó

Dị ứng da ở chó thường xảy ra nhanh, bất ngờ với nhiều dấu hiệu khác thường như trên. Và rất khó điều trị triệt để căn nguyên nếu không xác định được nguyên nhân.

Tuy nhiên khi thấy các triệu trứng nghi chó bị dị ứng thì cần phải được điều trị bằng cách:

Tiêm thuốc chống dị ứng với thuốc kháng Histamine. Liều tiêm 0.2-0.4mg/kg thể trọng của chó. Liều tối đa 1mg/kg thể trọng.

Thuốc tiêm bổ trợ: Vitamin C và Canxi Clorua.

Dùng kháng sinh nếu chó bị viêm da bội nhiễm, viêm ruột, viêm ruột hô hấp.

Điều trị triệt để căn nguyên gây nên dị ứng bằng cách loại trừ các nguyên nhân gây dị ứng: Thuốc là do thức ăn hay môi trường hoặc do ký sinh trùng.

Chăm sóc chó chu đáo, nơi ở sạch sẽ, thông thoáng, khô ráo, lựa chọn thức ăn cho chó dễ tiêu.

Nếu chó bị dị ứng là do thức ăn thì bạn cần phải chẩn đoán bằng cách loại trừ, kiểm soát chế độ ăn, thức ăn cho chó nghiêm ngặt để xác định nguyên nhân.

Nắm vững các nguyên nhân và triệu chứng chó bị dị ứng để đề phòng và có hướng điều trị phù hợp không chỉ là việc của các bác sỹ thú y mà cần có sự chăm sóc, phát hiện của người nuôi chó.

Sản phẩm dịch vụ của Mèo Cún gồm có:…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhà Văn Kim Lân: Dị Ứng Với Cái Giả, Cái Nhạt trên website Asahihotpot.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!