Đề Xuất 2/2023 # Đđvu 01 / Chó Cắn Lữ Động Tân / Huệ Khải # Top 10 Like | Asahihotpot.com

Đề Xuất 2/2023 # Đđvu 01 / Chó Cắn Lữ Động Tân / Huệ Khải # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đđvu 01 / Chó Cắn Lữ Động Tân / Huệ Khải mới nhất trên website Asahihotpot.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lữ Động Tân là một trong tám vị tiên (Bát Tiên), theo thứ tự như sau:

1. Chung Ly Quyền. Ngài họ Chung Ly, tên Quyền, cũng gọi là Hán Chung Ly vì sống vào đời Hán; tự là Tịch Đạo; hiệu là Vương Dương Tử và Vân Phòng Tiên Sinh.

Người Việt thường gọi sai là Lữ 3. Lữ Động Tân. Đồng Tân. Theo đạo Lão, động không phải chỉ là hang động thông thường trong núi. Nơi tiên ở gọi là động phủ. Nhiều cuộc lễ quan trọng của đạo Lão xưa kia đã được tổ chức trong hang động. Động hiểu là cõi tiên; Tân là khách (bộ phận tiếp khách gọi là lễ tân, tiếp tân). Vậy, Lữ Động Tân nghĩa là người khách họ Lữ ở động, ám chỉ người cõi tiên.

Ngài họ Tào, tên Cảnh Hưu. Ngài là em trai của Tào Hậu, mà Tào Hậu là vợ vua Tống Nhân Tông, tức là mẹ vua Tống Anh Tông. Xét về vai vế, ngài là em vợ Tống Nhân Tông và là cậu của Tống Anh Tông. Theo người Hoa, anh hay em của mẹ và anh hay em của vợ đều gọi là 4. Tào Quốc Cữu. cữu, cũng như người miền gọi là cậu. Bởi vì ngài thuộc hoàng tộc nên được gọi là Quốc Cữu, ghép với họ gọi là Tào Quốc Cữu. Người Việt thường gọi sai là Tào Quốc Cựu.

cũng gọi là Thiết Quải Lý. Ngài họ Lý, tên Huyền, thường chống gậy sắt. 5. Lý Thiết Quải Thiết Quải nghĩa là cây gậy sắt,nhưng người Việt thường gọi sai là Lý Thiết Quài.

người Việt thường gọi sai là Lam 7. Lam Thái Hòa, Thể Hòa.

Theo sách vở truyền lại, Đức Lữ Tổ họ Lữ; tên Nham. Có sách bảo tên là Thiệu Tiên. Ngài có rất nhiều hiệu như: Thuần Dương Tổ Sư, Thuần Dương Tử, Hồi Đạo Nhân, Hồi Đạo Sĩ, Phù Hựu Đế Quân…

Ngài sinh đời Đường, nhưng có sách bảo là năm 646, hoặc 755… Nơi sinh là huyện Vĩnh Lạc, phủ Hà Trung (sau này là Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây). Có sách bảo quê ở Đông Bình hoặc Bồ Bản, thuộc Kinh Xuyên. Các sách chép chẳng giống nhau về tên cha mẹ ngài, về việc ngài độc thân hay có vợ, đã thi đậu làm quan hay thi rớt nhiều phen.

Ngài là học trò Đức Chung Ly Quyền (thường gọi là Chung Tổ). Hai thầy trò cùng đứng trong hàng Bát Tiên, và kinh sách đạo Lão thường nhắc chung cả hai vị, gọi là Chung Lữ Nhị Tổ.

Đọc Thất Chân Nhân Quả, chúng ta biết thêm hai vị Tổ Sư này đã truyền đạo cho Vương Trùng Dương rồi sau đó Vương Tổ truyền đạo cho bảy học trò (sáu nam, một nữ) ở tỉnh Sơn Đông, thế là hình thành nhóm Toàn Chân Thất Tử và phái Toàn Chân ra đời, rất thịnh ở Trung Quốc.

Ngài Lữ giật mình tỉnh dậy thấy nồi kê nấu vẫn chưa chín. Ngẫm lại, thấy rằng bao nhiêu vinh hoa phú quý, thăng trầm kiếp người, tất cả chỉ thoảng qua như một giấc mộng, còn ngắn ngủi hơn cả thời gian nấu chín một nồi kê, ngài Lữ giác ngộ lẽ vô thường, chán chường tuồng ảo hóa, liền xin theo Đức Chung Tổ học đạo Tiên.

Do tích này, để ám chỉ chuyện công danh phú quý thế gian chỉ là hư ảo, phù du, trong văn học có thành ngữ giấc mộng hoàng lương, giấc mộng kê vàng ( hoàng lương mộng).

Thuở mới đi tu, ngài Lữ được thầy là Chung Tổ bày ra đủ cách thử thách. Truyện Đông Du Bát Tiên chép rõ mười cảnh ảo do Đức Chung Tổ hóa ra để làm đề thi luyện kỷ thử thách học trò. Lược kể tám đề thi trong số đó như sau:

– Ngài Lữ thấy toàn gia quyến bị bệnh dịch chết hết mà không hề oán trời trách đất.

– Bị người mua gian bán lận mà không buồn giận.

– Cho tiền kẻ xin ăn, bị họ chê ít và mắng nhiếc mà vẫn tươi cười.

– Gặp gái trẻ đẹp lả lơi, rù quến mà không động lòng dâm.

– Bị trộm ăn cắp hết của; rồi cuốc đất gặp vàng ròng mà thản nhiên không thèm nhặt.

– Mua đồ đồng, người bán đưa lộn vàng thật, liền đem trả lại.

– Bị nạn lụt lớn mà không kinh hãi.

– Không chịu học phép chỉ đá hóa vàng, vì biết sau này vàng ấy sẽ trở lại thành đá, làm tổn hại người xài vàng giả.

Những thử thách kể trên, đặc biệt là thử thách đầu tiên (thấy toàn gia quyến bị bệnh dịch chết hết mà không hề oán trời trách đất) khiến chúng ta nhớ Cựu Ước chép chuyện ông Gióp ở đất Út là người vẹn toàn và ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác. Xatan nói với Ðức Chúa:

“Ngài cứ thử giơ tay đánh vào mọi tài sản của nó xem, chắc chắn là nó nguyền rủa Ngài thẳng mặt!’ (Gióp 1:11)

Được Thiên Chúa cho phép, Xatan bèn ra tay thử thách ông Gióp. Trong một ngày, ông liên tiếp nghe bốn tin dữ:

– Dân Sơva cướp hết bò và lừa, người làm của ông bị giết.

– Chiên và dê cùng một số người làm bị chết cháy.

– Người Canđê cướp lạc đà, giết người làm của ông.

– Con trai và con gái ông đang ăn tiệc thì nhà sập đè họ chết.

Trước bốn việc dữ xảy đến dồn dập, ông Gióp vẫn không một lời trách móc, không hề phạm lỗi với Thiên Chúa.

Giai thoại hạc múa ấy có lẽ trùng lắp với một truyền thuyết khác về ông tiên Phí Văn Vi. Vị này thường cỡi hạc đến chơi trên một cái lầu ở phía tây huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc. Lầu ấy vì thế được gọi tên là lầu Hoàng Hạc.

Đời Đường, nhà thơ Lý Bạch đến đấy chơi, thấy phong cảnh xinh đẹp, muốn làm một bài thơ, nhưng lại thôi, chỉ lưu hai câu ngắn:

Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

(Trước mắt có cảnh đẹp mà không tả được,

Trên đầu đã có Thôi Hiệu đề thơ rồi.)

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay…

Đức Lữ Tổ hành tung ẩn hiện, biến hóa khôn lường, tuy đắc đạo rồi vẫn nguyện thăng giáng nơi cõi trần ô trược để tìm cơ duyên độ dẫn người có thiện căn bước vào đường tu tiên giải thoát. Trải qua Đường, Tống, Nguyên các đời, Đức Lữ Tổ hiển hiện nhiều linh dị, dân chúng sùng bái, lập miếu thờ, lưu truyền nhiều kỳ tích huyền bí. Đời Thanh quy định nghi thức hành lễ tôn kính Ngài theo đấng Đế Quân.

Uy linh của Đức Lữ Tổ còn ảnh hưởng sang Việt . Giữa lòng Hà Nội, xưa là kinh thành Thăng Long, trên hồ Hoàn Kiếm (hay hồ Gươm) là đền Ngọc Sơn danh tiếng. Lúc đầu đền này thờ Đức Quan Thánh Đế Quân, sang thế kỷ 19 thì thờ thêm Đức Văn Xương Đế Quân, rồi sau lại thờ thêm Đức Phù Hựu Đế Quân (Lữ Tổ).

Ngoài ra, vì xuất thân là nho sĩ, Đức Lữ Tổ còn được người Trung Quốc tôn làm thánh tổ của nghề làm mực. Có sách bảo ngài là tổ của giới nho sĩ, mặc dù nhiều truyền thuyết chép rằng lúc chưa tu, ngài thi đâu rớt đó!

Dân gian Trung Quốc thường minh họa Đức Lữ Tổ cầm phất trần hay phất chủ . Đây là một bảo bối của đạo Tiên, thế nên phất trần cùng với kinh Xuân Thu của Nho Giáo, bình bát (patra) của Phật Giáo được đạo Cao Đài gộp lại làm biểu tượng chung cho Tam Giáo.

Hoặc vẽ ngài đeo kiếm sau lưng như kiếm khách. Truyền thuyết cho rằng Đức Lữ Tổ rất giỏi kiếm pháp, ngài luôn mang gươm đi trừ yêu diệt quái.

Hai đời vua trước cũng hiến ngài hai tôn hiệu khác:

(4) Phù Hựu Đế Quân:ngài là bậc Đế Quân linh hiển, dân chúng rất tin cậy ở sự che chở, bảo hộ của ngài ( Phù: được tín nhiệm; Hựu: bảo hộ, phù hộ).

Nhiều bậc hành giả tu đơn, chuyên về tâm pháp (thiền) thường không muốn lập ngôn (viết sách). Trái lại, Đức Lữ Tổ dù coi trọng tu thiền, ngài vẫn tích cực nhập thế phổ độ và hăng say trứ tác để giáo hóa. Điều đó giải thích vì sao xưa nay ngài đã là một tên tuổi lừng lẫy của đạo Lão Trung Quốc.

Tác phẩm của Đức Lữ Tổ để lại cho đời khá nhiều, được chép trong Đạo Tạng Tập Yếu, một số có thể do đời sau ngụy tạo, một số do cơ bút Đạo giáo dân gian. Lược kể một số tác phẩm chính như sau: (1) Bách Vấn Thiên; (2) Bí Truyền Chính Dương Chân Nhân Linh Bảo Tất Pháp; (3) Chỉ Huyền Thiên; (4) Cửu Chân Ngọc Thư; (5) Linh Bảo Thiên; (6) Phá Mê Chính Đạo Ca; (7) Thập Giới Công Quá Cách; (8) Truyền Đạo Thượng Thiên; Trung Thiên; Hạ Thiên; (9) Trửu Hậu Tam Thành Thiên, v.v…

Chẳng hạn, chúng ta biết bình sinh Đức Khổng Tử luôn bị vua chúa bạc đãi, không tin dùng chính trị vương đạo của ngài. Có lúc ngài và nhóm môn đệ còn bị kẻ dữ vây khổn ở nước Trần, nước Thái, phải chịu nhịn đói luôn sáu bảy ngày… Chúng ta cũng biết trong Sử Ký của Tư Mã Thiên ( 145-86 trước Công Nguyên

Đức Khổng Tử không phải là trường hợp duy nhất bị người đời bạc đãi trên đường truyền đạo của ngài. Chúng ta biết chuyện Đức Phật trong lúc đang hoằng pháp từng bị kẻ xấu cho voi dữ tấn công, lén lăn đá từ trên núi xuống, bị bỏ thuốc độc trong cơm để mưu sát, bị đàn bà độn bụng giả làm kẻ mang bầu rồi đi thẳng vào chỗ Phật đang giảng đạo mà lu loa vu khống!

Đức Giêsu thì sao? Chúa bị quân dữ đánh đòn, bị đội vòng gai, bị khạc nhổ, bị đánh vào đầu, bị giễu cợt, bị đem đóng đinh trên thập giá giữa hai tên cướp… (Matthêu 27:26, 29, 30, 38).

Ngày xưa (thời Nhị Kỳ Phổ Độ), Đức Khổng, Đức Phật, Đức Chúa nào có “tội tình” gì! Các Đấng chỉ đem hết tình thương và trí tuệ siêu việt ra giáo hóa, cứu độ chúng sinh mà thôi. Thế nhưng các Đấng đều bị bách hại (persecuted), không có ngoại lệ. Các Đấng đều ở vào nghịch cảnh “chó cắn Lữ Động Tân”.

Ngày nay, trong Tam Kỳ Phổ Độ vẫn không khác. Mùa xuân năm Tân Sửu, mùng 2 Tết (16-02-1961), trước nỗi niềm tâm sự “Lữ Động Tân bị chó cắn” của một số bậc hướng đạo chân tu trong đạo Cao Đài, Đức Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn giáng cơ tại Chơn Lý Đàn (Vạn Quốc Tự, quận 3, Sài Gòn) để an ủi và ban lời dạy như sau:

“Giờ phút này, Mẹ chan rưới phước lành cho mỗi trẻ được mát mẻ tâm linh, minh quang trên đường sứ mạng. Mẹ mong mỗi con sẽ tận hưởng được những phút vui tươi trong cửa Đại Đạo. Sự vui tươi của các con hẳn là về tinh thần, chớ xác thịt các con phải chịu nhiều đau thương, tiếng nặng lời cao.

“Các con không nên nản dạ khi con gặp điều gì chẳng đẹp lòng con. Con nhớ chăng gương Thánh Nhơn thuở trước? Đương buổi truyền giáo phải chịu biết bao tủi nhục, chúng sanh nào tôn sùng! Nhưng đã vạn đại [muôn đời] mà phương danh [danh thơm] vẫn không phai mờ với sứ mạng của các con.

Trở lại với ý nghĩa thành ngữ “Chó cắn Lữ Động Tân / Cẩu giảo Lữ Động Tân” của người Hoa, ngày nay chúng ta thấy trên một số websites nhằm giới thiệu văn hóa Trung Quốc với phương Tây, thành ngữ này được nhắc tới khá nhiều, họ diễn dịch thành ngữ này như sau: Cẩu giảo Lữ Động Tân, bất thức hảo nhân tâm.

(Chó cắn Lữ Động Tân / không thể nhận biết được một người tâm lành hạnh tốt. Đức thiện hảo của một người thì chẳng là cái gì quan trọng đối với phường bạc bẽo vong ân.)

Tóm lại, dường như đã thành “nghiệp chướng” chung cho những ai muốn đem tâm huyết ra tận tụy phụng sự thế gian; họ luôn luôn phải sẵn sàng cắn răng nhẫn nại để đón nhận những “phần thưởng” đắng cay, chua chát, đớn đau… mà người thế gian sẽ “hào phóng” ban tặng.

Xưa đã thế, nay vẫn như thế: Lữ Động Tân luôn luôn bị thế gian xua chó ra cắn!

Chó cắn Lữ Động Tân là một nghịch lý thế gian. Chấp nhận nghịch lý ấy để sống phụng sự đời phải là những người biết noi theo gương bác ái vị tha của Đức Giêsu khi cầu nguyện xá tội cho kẻ dữ: “Lạy Chúa, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Luca 23:34)

Rất ngạc nhiên thay, có một thanh niên mười chín tuổi là Kent M. Keith lại sớm lãnh hội được triết lý sống với những nghịch lý thế gian! Bấy giờ (năm 1968) đang làm sinh viên năm thứ hai tại ,

(2) Nếu bạn làm điều tốt, thiên hạ sẽ buộc tội bạn có động cơ thầm kín. Dẫu thế, cứ làm điều tốt.

(4) Việc lành bạn làm hôm nay sẽ bị quên lãng ngày mai. Dẫu thế, cứ làm lành.

(9) Bá tánh thật sự cần được giúp đỡ nhưng nếu bạn trợ giúp, có thể họ công kích bạn. Dẫu thế, cứ giúp người khác.

(10) Hãy trao cho đời những gì tốt đẹp nhất bạn có và bạn sẽ nhận lấy sự bội bạc. Dẫu thế, cứ trao cho đời những gì tốt đẹp nhất bạn có.

Đọc Chương 10: Chó Cắn Lữ Động Tân

Buổi tối, Hứa Họa quả nhiên mang theo một chiếc hộp lớn tinh xảo trở về, trực tiếp đặt trước mặt Trương Vân Nhứ, thản nhiên nói: “Bánh ngọt của các cậu đây.” Nói xong trở lại ngăn tủ của mình, tìm quần áo đi tắm.

“Nhìn chiếc hộp này xem. Nhất định rất quý, làm sao bây giờ, mình thật không nỡ ăn ~ ” Tuy nói thế, nhưng Lôi Manh nhất định sẽ không buông tha cho mỹ vị trước mắt, nhanh chóng mở hộp ra, lấy ngay một miếng bánh chà bông ăn trước. Hai người còn lại cũng không chịu yếu thế, vội lấy bánh ngọt mình yêu thích, vui vẻ nhâm nhi. Lúc Hứa Họa từ phòng vệ sinh ra, liền thấy ba ánh mắt nóng bỏng nhìn mình chằm chằm, nàng bình tĩnh lau tóc: “Sao lại nhìn tôi như vậy.” “Nữ thần, cảm ơn bánh ngọt của cậu.” Mắt Lôi Manh không lớn không nhỏ, nhưng cười lên liền híp lại, cực kỳđáng yêu. “Không cần cảm ơn, chỉ là tiện tay mang về.” Nói xong Hứa Họa xoay người, lưu loát leo lên giường, không nói thêm gì nữa. Trương Vân Nhứ lo lắng Lôi Manh trong lòng không thoải mái, vội vàng đứng ra hòa giải: “Nữ thần chẳng qua là thẹn thùng, cậu đừng… Ahh, đau đau đau, nhẹ một chút, nhẹ một chút ~” Lời còn chưa nói hết, lỗ tai đã bị một bàn tay trắng nõn vặn lấy. “Còn để tôi nghe cậu thay tôi nói nhảm nữa, lỗ tai còn lại đừng mong còn dùng được.” Hứa Họa lạnh lùng nói xong mới chịu buông tay ra, dựa vào gối đầu, tiếp tục đọc sách. Chẳng qua là vành tai vốn trắng nõn, bỗng ửng lên một tầng hồng nhạt. “Nhã miệt điệp.” Trương Vân Nhứ xoa vành tai đỏ au của mình, hai mắt lưng tròng. (Nhã miệt điệp: là tiếng kêu của mấy cô gái trước khi bị híp) “Hử? Đừng nói cậu thường xuyên xem phim hành độngtình cảm Nhật nha (phim 18+), ngay cả “Nhã miệt điệp” cũng biết.” Lôi Manh mập mờ nhìn Trương Vân Nhứ, không biết xấu hổ nở nụ cười. Trương Vân Nhứ bình thường tính tình rất tốt, nhưng cũng không phải dạng người dễ trêu chọc, đặc biệt với những người quen thân, công lực mắng người không hề thua kém, lập tức mở miệng đánh trả về: “Cậu yên tâm, cho dù mình xem, nữ nhân vật chính nhất định là cậu. Không phải cậu diễn chính, mình tuyệt đối không xem!” Lôi Manh lập tức nghẹn họng trân trối, không nói nên lời. Quá độc! Thì ra Hư Hư cũng phải đèn cạn dầu a. Trên giường, Hứa Họa cũng lộ ra vẻ mặt kinh ngạc. Nguyên lai không phải bé thỏ trắng vô hại, mà là tiểu mèo hoangmóng vuốt sắc bén a.

Thứ năm, họp câu lạc bộ. Thời điểm Trương Vân Nhứ và Hứa Họa đến, trong phòng đã có rất nhiều người. Hai người vừa vào, cả phòng đang nhiệt tình trao đổi lập tức yên tĩnh trở lại, hướng đến các nàng, nói đúng hơn là Hứa Họa, ánh mắt nhiệt liệt hoan nghênh. Thế giới này quả nhiên đều là xem mặt bắt hình dong mà. Trương Vân Nhứ cảm khái trong lòng. Hứa Họa đã bị những ánh mắt thế này nhìn thành quen, mặt không đổi sắc, nhìn không chớp mắt, đi đến nơi hẻo lánh ngồi xuống, Trương Vân Nhứ vội vàng theo sau. “Hứa Họa, mình phát hiện mọi người đều nhìn cậu.” Trương Vân Nhứ nhỏ giọng nói. Đối với hiện tượng này, một chút tâm trạng vui mừng nàng cũng không có, nhàn nhạt trả lời: “Không cần để ý những người râu ria này. Hiện giờ rãnh rỗi thì đọc sách đi, [Nguyên lý kinh tế học] của Adamsmith, cậu đã đọc xong chương 1 chưa?” Vừa nghĩ đến mấy chữ tiếng Anh vặn vẹo kia, Trương Vân Nhứ liền đau đầu, ghé vào mặt bàn kêu rên: “Mình xem mãi vẫn không hiểu, hơn nữa cũng không mang sách theo.” Hứa Họa không hài lòng cau mày, không ai trời sinh liền biết tất cả,còn người đều phải trải qua quá trình học tập. “Hiện giờ còn thời gian, nên học từ vựng nhiều hơn đi.” Tuy đến giờ Trương Vân Nhứ vẫn không hiểu hết con người Hứa Họa, nhưng đã có thể nhận biết tâm trạng nàng thay đổi thế nào. Cảm nhận được nữ thần mất hứng, nàng lập tức sợ hãi, yếu ớt nói: “Mình lập tức học từ vựng.” Chỉ lát sau, người chỉ gặp một lần, hội trưởng Tưởng Cương bước vào. Hội trưởng thật ra là người vẻ ngoài rất khá, trắng trắng, gầy gầy, cao cao, lại đeo một cặp kính đen, thoạt nhìn vô cùng trí thức. “Chào các bạn, mình là hội trưởng câu lạc bộ Triết học Max Lenin, gọi tắt là câu lạc bộ khoa học xã hội, Tưởng Cương. Đầu tiên, mình muốn hoan nghênh hai tiểu học muội năm nhất đáng yêu của chúng ta, hoan nghênh các bạn đến câu lạc bộ của bọn mình…” Tưởng Cương nói đại khái hơn nữa tiếng đồng hồ, sau đó nhường mọi người tự giới thiệu. Câu lạc bộ khoa học xã hội không nhiều thành viên lắm. Lớn hơn các nàng ba tuổi chỉ có một người, là hội trưởng Tưởng Cương; năm hai bốn người: hai học trưởng, hai học tỷ; năm nhất tám người: bốn nam, bốn nữ.” Người đầu tiên giới thiệu là một nam sinh mập mạp: “Chắc mình không cần giới thiệu nhiều rồi. Mình hiện đang là thành viên đáng yêu nhất câu lạc bộ, chào mọi người, mình là Mạnh Phi Hàn, sinh viên khoa cơ khí. Về sau, nhà các bạn có máy móc hư hỏng gì đó, có thể tìm mình sửa, miễn phí không thu tiền nha.”

Vừa nói xong, tất cả mọi người đều cười vang. “Nữ thần, vị học trưởng này thật hài hước.” Trương Vân Nhứ nhỏ giọng nói. Trong tất cả học trưởng học tỷ, Mạnh Phi Hàn là người vui tính nhất rồi. Những người khác đều rất bảo thủ, không hổ là sinh viên nghiên cứu chuyên ngành khoa học xã hội. Có thể nói, những sinh viên năm hai còn trụ lại câu lạc bộ này chỉ có ba khả năng: thứ nhất là thực sự thích (khả năng này cơ bản là bằng 0), thứ hai là được hội trưởng xem trọng lưu lại bồi dưỡng (khả năng này 50%), cuối cùng chính là sinh viên chuyên ngành Max Lenin (khả năng này cũng có 50%). Cho nên đại đa số người ở đây đều rất nghiêm túc. Sinh viên năm nhất vào so ra sôi nổi hơn, khắc sâu ấn tượng nhất với nàng là hai bạn Y Huyên, và Phan Vũ. “Chào mọi người, mình tên Y Huyên, là sinh viên khoa nghệ thuật. Mình giỏi ca múa, sau này có hoạt động, phong trào gì cứ giao cho mình.” Lời tuyên ngôn khí phách vừa thốt ra, các nam sinh đều cho đủ mặt mũi vỗ tay rần rần. Muội muội giấy này kỳ thật lớn lên rất đẹp, dáng người cũng không tồi, có điều là trang điểm quá đậm rồi. “Chào mọi người, mình tên Phan Vũ, khoa công nghệ thông tin, chính là trạch nam trong truyền thuyết, con trai ngành kỹ thuật chính là mình. Sao rồi, có phải đã phá vỡ hình tượng trạch nam trong lòng mọi người không?” Phan Vũ nói xong, còn tạo một kiểu Poss anh tuấn, tự kỷ vô cùng.

Nhưng Trương Vân Nhứ thừa nhận, hắn lớn lên rất đẹp trai, chính là hình tượng soái ca chói mắt. Đến phiên nàng và Hứa Họa. Trương Vân Nhứ rất nhanh ngồi dậy, tươi cười xinh xắn lộ ra chiếc răng khểnh cực kỳ dễ thương: “Chào mọi người, mình tên Trương Vân Nhứ, Trương trong cung dài, Vân trong đám mây, Nhứ trong tơ liễu, học khoa kinh tế. Rất hân hạnh được biết cả nhà, sau này mong mọi người chiếu cố nhiều hơn.” Nàng khom người chào liền ngồi xuống, chọt chọt Hứa Họa, tỏ ý nàng đứng lên giới thiệu. Hứa Họa lạnh lùng nhìn ngón tay phạm thượng của Trương Vân Nhứ, nhịn xuống xúc động muốn chặt ngón tay nàng, đứng lên, vẻ mặt như trước cực kỳ lạnh nhạt: “Hứa Họa, khoa kinh tế.” Nói xong liền ngồi xuống.Nữ thần, như vậy quá ngắn gọn rồi! Trương Vân Nhứ có chút lo lắng, nàng vốn đã quen tính tình Hứa Họa, nhưng mà người khác không quen a, không chừng sẽ đắc tội người ta. Quả thật liền có người bất mãn. Y Huyên hừ lạnh một tiếng, nhỏ giọng nói: “Chảnh cái gì chứ.” Nhưng cô ấy ngồi phía trước hai người, Trương Vân Nhứ nghe được không sót chữ nào, lập tức không vui, đứng lên ngại ngùng cười nói: “Thực xin lỗi, tính tình Hứa Họa có chút lạnh, cậu ấy không có ý gì khác đâu, mọi người bỏ qua cho.”

“Không sao, không sao.” Mạnh Phi Hàn cười ngọt ngào, mắt híp thành một đường kẻ: “Mỹ nữ nên lạnh lùng, mỹ nữ nên lạnh lùng.” Tiếp theo, hội trưởng dặn dò một chút hoạt động hằng tháng, cùng hội nghị thường kỳ liền giải tán. Để lại khán phòng cho các thành viên năm nhất và năm hai tự do trao đổi.

“Chó Cắn Lã Động Tân”

Nếu bạn biết rằng Lã Động Tân là một trong tám vị Tiên huyền thoại thì sẽ thấy câu nói trên không chỉ vô lý, mà còn có phần bất kính nữa. Nhưng kỳ thực, đằng sau đó là một điển cố nổi tiếng, ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu xa.

Lã Động Tân là người huyện Vĩnh Lạc, phủ Hà Trung, sinh vào những năm Trinh Nguyên đời Đường Đức Tông. Ông thường mặc trang phục đạo sĩ, trên tay cầm cây phất trần, lưng đeo kiếm phép. Bởi ông lấy Thuần Dương Tử làm đạo hiệu, nên người đời thường gọi ông là Thuần Dương kiếm khách.

Thời ấy Lã Động Tân có một người bạn tâm giao tên là Cẩu Diễu. Cha mẹ của Cẩu Diễu đều đã qua đời, gia cảnh lại nghèo khó, vậy nên Lã Động Tân đã mời Cẩu Diễu về sống tại nhà mình để cùng trau dồi việc bút nghiên.

Một ngày nọ có vị khách họ Lâm đến chơi nhà, thấy Cẩu Diễu anh tuấn nho nhã lại chăm chỉ học hành, vị khách bèn nói với Lã Động Tân: “Thưa tiên sinh, tôi muốn gả Lâm muội muội của tôi cho Cẩu Diễu, ý tiên sinh thế nào?”.

Lã Động Tân thấy Cẩu Diễu có vẻ ưng thuận mối hôn sự này nên không tiện từ chối, nhưng lại lo rằng bạn mình thành gia lập thất rồi sẽ bỏ lỡ tiền đồ. Ông bèn nói: “Lâm tiểu thư vừa xinh đẹp lại có đức hạnh, quả là phúc đức lớn cho tiểu huynh đệ của ta. Chỉ có một điều kiện này, sau khi hai người thành thân rồi, ta muốn được động phòng với tân nương tử ba đêm đầu”.

Cẩu Diễu nghe xong thấy thất kinh, trong lòng không khỏi sửng sốt nhưng vẫn đành phải cắn răng đồng ý. Cuối cùng thì hôn sự vẫn diễn ra như dự định. Vào đêm động phòng, tân nương đeo khăn hồng che mặt, ngồi trên giường chờ tân lang đến. Chờ mãi chờ mãi mới nghe thấy tiếng bước chân chàng tiến vào phòng. Nhưng vị tân lang này chẳng nói chẳng rằng, cũng chẳng thèm tỏ ra quan tâm đến nàng, mà cứ thế ngồi ở bàn chong đèn đọc sách suốt cả đêm. Lâm tiểu thư kiên nhẫn ngồi đợi đến nửa đêm vẫn không thấy động tĩnh gì, đành phải ấm ức ngủ một mình. Nhưng sáng sớm hôm sau nàng tỉnh dậy thì chàng ta cũng biến đi như một cơn gió.

Chuyện cứ như thế suốt ba đêm liền.

Sau ba ngày mòn mỏi, Cẩu Diễu mới được vào động phòng. Anh ngạc nhiên thấy nương tử đang ngồi trên giường khóc thút thít, bèn quỳ xuống bên cạnh an ủi nàng. Lâm tiểu thư nói trong nước mắt: “Lang quân, vì sao cả ba đêm qua chàng không chịu đi ngủ mà cứ mải mê đọc sách suốt đêm, đến sáng thì lại bỏ đi đâu mất vậy?”.

Đến lúc này Cẩu Diễu mới vỡ lẽ: “Thì ra ca ca sợ ta ham vui mà quên việc đèn sách, nên mới dùng cách này để nhắc nhở ta. Ca ca dụng tâm như vậy thì quả là quá ‘nhẫn tâm’ rồi!”. Nói xong, anh bèn kể lại đầu đuôi sự tình cho nương tử nghe.

Về sau Cẩu Diễu thi đỗ bảng vàng và được lên làm quan. Cả hai vợ chồng cùng đến cáo biệt Lã Động Tân để lên đường nhậm chức.

Nhiều năm trôi qua, Lã gia không may gặp hỏa hoạn, toàn bộ cơ ngơi sản nghiệp nay chỉ còn lại một đống tro tàn. Lã Động Tân đành phải dựng một căn nhà tranh để vợ con ở tạm qua ngày, rồi khăn gói lên đường tìm Cẩu Diễu nhờ giúp đỡ. Trải qua quãng hành trình khổ nhọc, mãi rồi ông cũng tìm được người bạn chí thân chí cốt năm xưa. Cẩu Diễu mặc dù đón tiếp ông rất thân tình, nhưng tuyệt nhiên lại không đề cập đến chuyện giúp đỡ, thậm chí một đồng bạc lẻ cũng không hề đưa cho Lã huynh.

Cứ như thế Lã Động Tân đã ở nhà Cẩu Diễu hơn một tháng trời. Tiền mang theo người cũng tiêu sạch, mà Cẩu Diễu vẫn cứ dửng dưng như thế, ông bèn buồn bã trở về nhà.

Lại trải qua quãng đường dài vất vả, cuối cùng ông mới về đến nhà. Nhưng ngạc nhiên thay, túp lều tranh cũ đã biến mất, thay vào đó là một căn nhà mới to đẹp khang trang. Bên trong nhà dán giấy trắng, lại có tiếng khóc than nỉ non không ngớt. Ông chạy vội vào trong, thì thấy ngay giữa nhà là cỗ quan tài lớn, còn vợ con ông thì mặc áo tang đang gào khóc thảm thiết.

Lã Đông Tân gọi vợ: “Phu nhân, phu nhân… chuyện gì xảy ra thế?”.

Vợ ông quay đầu lại, vừa run rẩy vừa nói: “Chàng… là người hay là ma?”.

Lã Động Tân cảm thấy lạ lùng, nói: “Phu nhân, ta có chết đâu, sao lại là ma được?”.

Thì ra trong những ngày ông đi vắng thì có người đến giúp xây nhà, lại sắm sửa đồ đạc mới tinh tươm. Ít lâu sau, lại có người mang theo cỗ quan tài đến báo tin: Lã lão gia đã đổ bệnh chết rồi.

Lã Động Tân biết là Cẩu Diễu bày trò đùa mình. Ông bèn bước đến cầm rìu bổ cỗ quan tài làm đôi, thấy bên trong toàn là kim ngân châu báu. Trên đó có một phong thư, viết rằng:

“Tiểu đệ không dám phụ lòng huynh, nay xin tặng huynh một căn nhà và số kim ngân này làm kế sinh nhai. Huynh khiến thê tử đệ giữ phòng trống, nay đệ mạn phép khiến thê tử huynh khóc đoạn trường”.

Từ đó trở đi, tình bạn của Lã Động Tân và Cẩu Diễu lại càng thêm khăng khít. Trong dân gian cũng vì vậy mà lưu truyền câu nói rằng: “Cẩu Diễu Lã Động Tân, bất thức hảo nhân tâm”, tạm hiểu là: Cẩu Diễu và Lã Động Tân, cả hai đều không biết (hiểu nhầm) lòng tốt của người kia. Bởi vì “Cẩu Diễu” (苟杳) đồng âm với “cẩu giảo” (狗咬) nghĩa là ‘chó cắn’, nên mới bị đọc chệch ra thành “ chó cắn Lã Động Tân, không biết lòng người tốt”.

Điều thú vị là câu thành ngữ “Chó cắn Lã Động Tân” trở nên quá phổ biến, khiến người ta quên mất câu chuyện gốc ban đầu. Câu thành ngữ này cũng được dịch sang tiếng Anh và mang một ý nghĩa khá mới mẻ: “A dog biting Lu Dongbin, not being able to recognize a kind-hearted man. The goodness of a person is of no consequence to the ungrateful”, tạm dịch là: Chó cắn Lã Động Tân, không nhận biết ai là người tâm lành hạnh tốt, đức thiện hảo của một người thường là chẳng quan trọng gì đối với phường bạc bẽo vong ân.

Theo chúng tôi

Nguồn Gốc Câu Thành Ngữ “Chó Cắn Lã Động Tân” Và Bài Học Từ Lịch Sử

Trong giới võ thuật có một thế võ gọi là “Lã Động Tân đả cẩu” có lẽ là xuất từ câu thành ngữ “Cẩu giảo Lã Động Tân”, nhưng mà tại sao Lã Động Tân lại bị chó cắn?

“Chó cắn Lã Động Tân” – Tranh vẽ dân gian Trung Quốc.

Lã Động Tân vì sao lại bị chó cắn? Câu chuyện trước đó ý nghĩa mới thật sâu xa

“Cẩu giảo Lã Động Tân, bất thức hảo nhân tâm”, tức chó cắn Lã Động Tân, không biết lòng tốt của người, đây không chỉ là một điển cố thú vị, mà còn hàm ẩn ý nghĩa sâu xa.

Trong truyện Bát Tiên Bồng Lai kể rằng, có một người đọc sách tên là Lã Động Tân, vì 2 lần tham gia kỳ thi khoa cử (kỳ thi mối năm tổ chức một lần) đều không đỗ, từ đó về sau, không còn thấy ông đọc sách, mà chỉ dựa vào gia sản tổ tiên để lại, du sơn ngoạn thủy kết bạn bốn phương, sống mỗi ngày tiêu diêu tự tại.

Chuyện xưa kể rằng: Trước khi Lã Động Tân thành tiên, có một người bạn tâm giao đồng hương tên là Cẩu Diễu, cha mẹ của anh ta đều đã qua đời, gia cảnh rất nghèo khó. Lã Động Tân đồng cảm với người bạn này, liền cùng anh ta kết bái làm huynh đệ. Hơn nữa, còn mời anh ta đến ở tại nhà mình, động viên anh ta chịu khó học hành, tương lai mới có ngày mở mày mở mặt.

Một ngày nọ, nhà Lã Động Tân có một vị khách họ Lâm đến chơi, thấy Cẩu Diễu thanh tuấn nho nhã, lại chăm chỉ đọc sách, bèn nói với Lã Động Tân: “Lã tiên sinh, tôi muốn gả ngu muội của tôi cho Cẩu Diễu, ông thấy thế nào?”.

Lã Động Tân nghe vậy, sợ Cẩu Diễu bỏ lỡ tiền đồ, liền vội vàng từ chối, nhưng Cẩu Diễu lại ra chiều đồng ý mối hôn sự này.

Cẩu Diễu nghe xong không khỏi sửng sốt, nhưng vẫn cắn răng đồng ý. Buổi tối ngày Cẩu Diễu thành thân, trong động phòng, tân nương với khăn hồng che mặt, ngồi dựa lưng vào giường. Lúc này, Lã Động Tiên xông thẳng vào phòng, chẳng nói chẳng rằng, cứ ngồi ở bàn dưới ánh đèn, mải mê đọc sách. Lâm tiểu thư đợi đến nửa đêm, đành phải nằm ngủ một mình. Đến sáng tỉnh dậy, thì không thấy tân lang đâu. Cứ liên tiếp 3 đêm đều như vậy.

Trải qua 3 ngày vô cùng ức chế, Cẩu Diễu mới được vào động phòng, thấy nương tử đang buồn bã khóc lóc, liền bước đến nhận lỗi. Lâm tiểu thư vẫn cứ cúi đầu khóc nói: “Lang quân, vì sao 3 đêm qua lại không lên giường đi ngủ, chỉ đọc sách dưới đèn, mãi đến tối mới đến, sáng lại đi sớm?”.

Sau khi nghe tân nương trách móc, Cẩu Diễu trợn mắt há hốc mồm, đến nửa ngày, anh mới tỉnh ngộ, dẫm mạnh hai chân, ngửa mặt cười to: “Thì ra là ca ca sợ ta ham vui, lại quên đọc sách, đã dùng cách này để khích lệ ta. Ca ca thật dụng tâm, có thể nói là quá “nhẫn tâm” rồi!”.

Lâm tiểu thư nghe Cẩu Diễu nói như vậy thì thấy vô cùng khó hiểu, đợi Cẩu Diễu nói rõ xong, hai vợ chồng cảm động nói: “Ơn này của Lã huynh, tương lai chúng ta nhất định phải báo đáp!”.

Vài năm sau, Cẩu Diễu quả nhiên thi đỗ bảng vàng được đề bạt làm đại quan, hai vợ chồng đến nhà Lã Động Tân xúc động từ biệt để lên đường đi nhận chức.

Lã Động Tân. (Ảnh: Internet)

Cẩu Diễu báo ân: “Huynh khiến thê tử ta giữ phòng trống, ta khiến thê tử huynh khóc đoạn trường”.

Nhoáng một cái đã 8 năm trôi qua, mùa hè năm đó, Lã gia không may bị cháy lớn, gia sản trong nháy mắt hóa thành đống tro bụi. Lã Động Tân đành phải dựng một căn nhà tranh, để cho vợ con tạm tránh mưa tránh gió.

Sau đó, hai vợ chồng bàn bạc, quyết định đi tìm Cẩu Diễu nhờ giúp đỡ. Trải qua quãng đường vất vả cực khổ, cuối cùng Lã Động Tân cũng tìm được Cẩu Diễu. Tuy nhiên, Cẩu Diễu khi nghe chuyện nhà Lã Động Tân gặp nạn thì tỏ vẻ thông cảm, nhưng lại không đề cập đến chuyện giúp đỡ, một chút tiền cũng không đưa cho Lã Động Tân.

Hơn một tháng trôi qua, Lã Động Tân nghĩ rằng Cẩu Diễu hẳn là đã vong ân bội nghĩa, nên một mạch trở về nhà.

Lã Động Tân vừa về đến nhà thì bất ngờ thấy một ngôi nhà mới. Không tin vào mắt mình, ông tiến vào bên trong nhà, thấy hai bên cửa lớn dán giấy trắng, giống như là trong nhà có người chết. Quá kinh ngạc, ông vội vàng bước vào, nhìn thấy giữa nhà có một cỗ quan tài, vợ con mình mặc áo tang, đang gào khóc thảm thiết.

Nguyên là, sau khi lã Động Tân rời đi không lâu, thì có người đến dựng giúp cái nhà, xây hẳn một ngôi nhà mới. Giữa trưa hôm trước, lại có nhóm người đến mang theo một cỗ quan tài, bọn họ nói: Lã Đông Tân khi đang ở nhà Cẩu Diễu thì bị bệnh chết.

Lã Động Tân nghe xong, biết là Cẩu Diễn bày trò đùa mình. Ông lại gần quan tài, cầm cái búa lớn bổ quan tài làm đôi, chỉ thấy bên trong tất cả đều là kim ngân châu báu, bên trên còn có một phong thư, viết: “Cẩu Diễu không phải là phụ lòng huynh, xin tặng huynh số kim ngân này và một căn nhà. Huynh khiến thê tử ta giữ phòng trống, ta khiến thê tử huynh khóc đoạn trường”.

Từ đó trở đi, hai nhà Lã Động Tân và Cẩu Diễu càng thêm thân thiết. Từ câu chuyện này, người ta mới có câu rằng: “Cẩu Diễu Lã Động Tân, bất thức hảo nhân tâm. Bởi vì “Cẩu Diễu” (苟杳) và “Cẩu giảo” (狗咬) đồng âm, truyền tới truyền lui mới trở thành “Cẩu giảo Lã Động Tân, bất thức hảo nhân tâm” (Chó cắn Lã Động Tân, không biết lòng tốt của người), là một câu thành ngữ trong nhân gian.

Lã Động Tân là một trong 8 vị Bát Tiên. (Ảnh: Internet)

Câu thành ngữ có ý nghĩa sâu xa

Về sau câu thành ngữ này thường được người ta áp dụng cho nhiều tình huống mà những người tốt, tài đức bị thế gian rẻ rúng, ngược đãi, ám hại…

Chẳng hạn, Đức Khổng Tử luôn bị vua chúa bạc đãi, không tin dùng chính trị vương đạo của ngài. Có lúc ngài và nhóm môn đệ còn bị kẻ dữ vây hãm ở nước Trần, nước Thái, phải chịu nhịn đói nhiều ngày… Trong Sử Ký của Tư Mã Thiên (145 – 86 trước Công Nguyên), ở chương Khổng Tử Thế Gia có chép lời người nước Trịnh bảo rằng Đức Khổng trông giống như “con chó nhà có tang / tang gia chi khuyển”. Khi nghe kể lại những chuyện không vui như thế, nếu thông cảm và thương Đức Khổng Tử, người Trung Quốc có thể than: “Ôi! Cẩu giảo Lã Động Tân!”.

Đức Khổng Tử không phải là trường hợp duy nhất bị người đời bạc đãi trên đường truyền đạo của ngài. Đức Phật trong lúc đang hoằng Pháp cũng từng bị kẻ xấu cho voi dữ tấn công, lén lăn đá từ trên núi xuống, bị bỏ thuốc độc trong cơm để mưu sát, bị đàn bà độn bụng giả làm kẻ mang bầu rồi đi thẳng vào chỗ Phật đang giảng đạo mà lu loa vu khống.

Còn Đức Chúa Giêsu? Ngài bị quân dữ đánh đòn, bị đội vòng gai, bị khạc nhổ, bị đánh vào đầu, bị giễu cợt, bị đem đóng đinh trên thập giá .

Ngày xưa, Đức Khổng, Đức Phật, Đức Chúa nào có “tội tình” gì! Các Ngài chỉ đem hết tình thương và trí tuệ siêu việt ra giáo hóa, cứu độ chúng sinh mà thôi. Thế nhưng các Ngài đều bị bức hại, không có ngoại lệ. Các Ngài đều ở vào nghịch cảnh “Cẩu giảo Lã Động Tân, bất thức hảo nhân tâm”.

Trở lại với ý nghĩa thành ngữ “Chó cắn Lã Động Tân / Cẩu giảo Lã Động Tân” của người Hoa, ngày nay thành ngữ này được nhắc tới khá nhiều. Hơn nữa, còn được dịch sang tiếng Anh là: A dog biting Lu Dongbin, not being able to recognize a kind-hearted man. The goodness of a person is of no consequence to the ungrateful, dịch ra là: Chó cắn Lã Động Tân, không nhận biết ai là người tâm lành hạnh tốt; đức thiện hảo của một người lại chẳng quan trọng gì đối với phường bạc bẽo vong ân.

Tóm lại, dường như đã không ngoại lệ cho những ai muốn đem tâm huyết ra tận tụy phụng sự thế gian; nhưng họ vẫn luôn từ bi nhẫn nại đón nhận những đắng cay, chua chát, đớn đau… ấy. Họ dám chấp nhận tất cả chỉ vì một mục đích duy nhất – Cứu độ con người thế gian.

Theo tinhhoa.net

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đđvu 01 / Chó Cắn Lữ Động Tân / Huệ Khải trên website Asahihotpot.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!